Phép Thất Thập Nhị Huyền Công
Trong kho tàng truyện Tàu, Tây Du Ký là bộ truyện thật phổ thông, ở Việt Nam hầu như ai cũng có đọc. Truyện kể thầy Tam Tạng cùng ba người đồ đệ là Tôn Hành Giả, Trư Bát Giái, và Sa Tăng hành hương đến miền dất Phật gọi là Tây Trúc để thỉnh kinh Phật đem về Trung Quốc. Đường đi thiên ma bách chiết, lại thêm tiếng đồn thịt thầy Tam Tạng là một món thuốc trường sinh vô cùng quí giá, ai ăn được sẽ sống lâu ngàn tuổi, cho nên ma quỉ yêu tinh trên đường thầy đi thỉnh kinh đều muốn đón bắt để ăn thịt. Vì thế cho nên ba người đồ đệ vừa phải lo phụng dưỡng thầy lúc đi đường, vừa phải lo đánh đỡ chống trả với bọn yêu tinh để bảo vệ thầy mình.
Trong ba người đệ tử của thầy Tam Tạng có Tôn Hành Giả, pháp danh Ngộ Không, là tài ba hơn cả. Với phép biến hóa thất thập nhị huyền công, Tôn Hành Giả khi thì biến thành con lằng xanh bay vào động yêu tinh để thám thính xem chúng bắt giam thầy mình ở đâu để giải cứu, khi thì biến thành chính thầy mình để dối gạt lũ yêu tinh, khi thì biến thành thức ăn như trái cây để yêu tinh ăn vào bụng và khi đã vào trong bụng của yêu tinh thì lại biến thành Tôn Hành Giả tí hon cầm thiết bảng vung múa đánh đập vào tim gan tì phế thận của yêu tinh để bắt chúng thả thầy mình ra. Với nhiều phép mầu như vậy, cho nên Tôn Hành Giả cùng hai sư đệ Trư Bát Giái và Sa Tăng đã hoàn thành sứ mạng đưa Sư Phụ đến Tây Trúc và thỉnh được kinh Phật mang về nước an toàn.
Giải Quán Quân Về Tài Dùng Tên Giả
Nếu trong truyện Tây Du, nhân vật huyền thoại Tôn Hành Giả pháp danh là Ngộ Không có phép biến hóa mầu nhiệm như vậy để giúp Thầy mình đi thỉnh kinh hầu quảng bá và phát triển Phật pháp từ bi bác ái, thì trong lịch sử của nước Việt Nam bất hạnh có nhân vật Hồ Chí Minh với tài ba thiên phú tạo ra huyền thoại và cách dùng tên giả đã thành công mang chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông về để thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam gian xảo, tham tàn, độc ác, và hèn hạ nhất trong lịch sử.
Trong lịch sử loài người, Hồ Chí Minh hẳn đoạt giải quán quân về tài dùng tên giả. Tác giả Douglas Pike trong quyển Khẩu Sử Về Người Mỹ ở Việt Nam 1945-1975 (An Oral History Of Americans In Vietnam 1945-1975) đã viết (trang 95): “Hồ Chí Minh đi khắp nơi với ít nhất 40 tên giả”. Tác giả Phạm Quang Trình, đã đọc hết tám ngàn trang của bộ Hồ Chí Minh Toàn Tập đồ sộ và cho biết Hồ Chí Minh đã dùng tới 30 bút hiệu khác nhau (quyển Chiến Đấu, trang 272). Nhưng theo tác giả Minh Võ thì chính Hồ Chí Minh tự nhận rằng việc có hơn một trăm tên giả là điều bình thường vì trong mọi tổ chức gián điệp quốc tế, các tên giả là vỏ bọc, là biện pháp an toàn (trích Hồ Chí Minh - Nhận Định Tổng Hợp, tác giả Minh Võ, trang 184). Sau đây chúng ta hãy thử xem Hồ Chí Minh đã dùng những tên giả nào và dùng để làm gì?
Tên giả đầu tiên của Hồ Chí Minh là Nguyễn Văn Ba. Vào ngày 5 tháng 6 năm 1911, sau khi nghỉ dạy ở trường Dục Thanh, ông tìm được một chân phụ bếp trên tàu SS Latouche Tréville của công ty Liên Hiệp Hàng Hải Pháp và ông làm việc trên tàu với cái tên Ba mộc mạc ấy. Tại sao ông không dùng tên thật là Nguyễn Tất Thành để được mang một chút vẻ vang về sự đỗ đạt đại khoa của cha mình? Thuở ấy, dù sao ông cũng là một ấm sinh, cha là một vị Phó bảng đã từng giữ chức Tri huyện tuy đã bị sa thải. Phải chăng ông không muốn dùng tên thật vì cho rằng công việc lao động tay chân trên tàu không xứng với dòng dõi khoa bảng của gia đình?
Đơn Xin Nhập Học Sai Lỗi Chính Tả
Khi vừa đến Pháp, ông liền viết đơn xin học Trường Thuộc Địa ở Paris, nơi đào tạo quan chức phục vụ cho các thuộc địa của Pháp trong đó có Đông Dương. Đơn viết làm 2 bản đề ngày 15-9-1911 gởi cho Tổng Thống Pháp và Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa. Trong đơn xin học nầy, ông đã viết tay một cách nắn nót và ký đề tên thật của mình là Nguyễn Tất Thành. Đơn không được chấp thuận vì trường chỉ nhận tuyển sinh do sự đề cử của chính quyền các nước thuộc địa. Nhưng khi viết đơn, ông đã phạm một lỗi chính tả (faute d’orthographe) rất sơ đẳng, chứng tỏ trình độ Pháp văn của ông rất thấp kém. Trong đơn, đúng ra phải dùng chữ subsistance là kế sinh nhai, thì ông lại viết sai thành chữ substance có nghĩa là chất liệu. Với những vị cao niên từng thân thuộc với nền học vấn Pháp thời Pháp thuộc, thì cái lỗi chính tả Hồ Chí Minh phạm phải là một lỗi rất nặng, giống như khi làm toán mà sai con toán phải bán con trâu vậy. Về cái lỗi chính tả trong đơn xin nhập học nầy, xin có lời dẫn giải thêm như sau.
Nguyên cha của Hồ Chí Minh là cụ Nguyễn Sinh Huy có quen với cụ Bùi Thức là cha của Bùi Kỷ, trong dịp gặp nhau tại trường thi, lui tới với nhau khi chờ đợi kết quả. Khoa thi Hội 1898, cụ Bùi Thức đỗ tiến sĩ, còn cụ Nguyễn Sinh Huy, đến năm 1901, mới đỗ Phó Bảng. Thi đỗ xong, cụ Sinh Huy đưa con mình là Tất Thành ra Bắc thăm cụ Bùi Thức ở làng Châu Cầu, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Hai cậu thiếu niên Tất Thành và Bùi Kỷ đã quen nhau từ thuở ấy. Anh thanh niên Bùi Kỷ rất giỏi, mới hơn 20 tuổi đã đỗ Phó Bảng, đã học trường Thông Ngôn, và được học bổng sang Pháp học trường Thuộc Địa từ tháng 2 năm 1911. Lúc Nguyễn Tất Thành mang tên Văn Ba đến Pháp, đi thăm cụ Phan Châu Trinh ở Paris, nhân đó đã gặp lại người quen cũ Bùi Kỷ. Có thể tại nhà cụ Phan, Bùi Kỷ đã gợi ý và thảo lá đơn xin nhập học cho Nguyễn Tất Thành chép lại. Và có lẽ vì trình độ Pháp văn còn thấp kém, trông gà hóa cuốc, bản thảo của Bùi Kỷ viết là subsistance mà Nguyễn Tất Thành chép lại sai thành substance chăng?!
Một Ngôi Trường Khác Cho Nguyễn Tất Thành
Như một thám tử tài ba điều tra và tìm ra thủ phạm của một vụ án giết người mà từ lâu đã bị lấp khuất, kẻ sát nhân bị lôi ra trước công lý để đền tội, và người thám tử được vinh danh. Việc tìm ra Lá Đơn Xin Nhập Học Trường Thuộc Địa Sai Lỗi Chính Tả của Hồ Chí Minh viết hồi năm 1911 cũng được ví von như vậy. Đó là do công khảo cứu của 2 nhà sử học Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu ngày 2-2-1983, và 2 người đã viết chung trong quyển Một Ngôi Trường Khác Cho Nguyễn Tất Thành.
Trong thời gian thật dài là 72 năm (từ 1911 đến 1983), lá đơn sai lỗi chính tả ấy đã nằm yên trong Văn Khố của Bộ Hải Ngoại Pháp Quốc mà không ai biết. Tưởng rằng không ai biết, nên Bác mới tha hồ khoác lác tự đề cao rằng mình “xuất dương để tìm đường cứu nước”. Đảng cũng không biết vị Chủ Tịch Đảng của mình đã từng nạp đơn để xin học Trường Thuộc Địa, nên mới tha hồ chưởi bới bôi lọ rằng “trường chỉ là nơi đào tạo những tên Việt Gian phản động, những tên chuyên làm tay sai cho Thực Dân Pháp”. Thật đúng là Chủ Tịch thì gian xảo, còn Đảng thì giỏi nghề chưởi bới!
Tên Paul Thành Và Paul Tatthanh
Ông vẫn làm việc dưới tàu, rày đây mai đó, khi đi Anh lúc sang Mỹ. Sau đó không lâu, ông viết thư cho Khâm sứ ở Trung Kỳ để xin ban cho cha ông một việc làm như thừa biện ở các bộ hay chức huấn đạo và một thư khác xin Khâm sứ chuyển mandat 15 đồng bạc Đông Dương cho cha mình vì cha ông không thể nhận mandat trực tiếp được. Những bức thơ nầy ông đề tên Paul Thành và Paul Tatthanh. Lần nầy, ông lại ghép thêm tên Paul vào tên khai sanh của mình cho có vẻ giống Pháp, vì đấy là mốt rất thời thượng vào thuở đó.
Bút Danh Nguyễn Ái Quốc Của Ai?
Về tên Nguyễn Ái Quốc thì có nhiều nghi vấn. Trong quyển Nhà Cách Mạng Tạ Thu Thâu 1906-1945 của tác giả Phương Lan Bùi Thế Mỹ (trang 87) thì tờ báo viết bằng chữ Pháp Le Paria có nghĩa là Người Cùng Đinh do Đảng Cộng Sản Pháp xuất vốn và do Nguyễn Thế Truyền hợp tác trông nom. Nguyễn Thế Truyền, người tỉnh Nam Định, có bằng kỷ sư hóa học, ở Pháp rất lâu, có vợ đầm, có hai cô con gái đặt tên là Trưng Trắc và Trưng Nhị để kỷ niệm tên hai vị nữ anh hùng Việt Nam. Ông là một đảng viên kỳ cựu trong Đảng Cộng Sản Pháp (trang 89 sđd). Dù là kỷ sư hóa học, nhưng không dùng bằng cấp sống với nghề nầy, trái lại Truyền lại đi theo con đường chính trị, viết báo hô hào binh vực quyền lợi người dân Việt Nam bị Pháp áp chế. Theo bà Phương Lan Bùi Thế Mỹ (bà viết lại theo lời kể của Tạ Thu Thâu, vì bà cùng nhà cách mạng Tạ Thu Thâu là người đồng hương ở tỉnh Long Xuyên và giữa hai người có giao tình nghĩa huynh nghĩa muội rất đậm đà) thì ban biên tập tờ Le Paria như sau:
“Trong nhóm của Truyền, có nhiều cây viết mạnh như Truyền, đồng ký tên chung trong mục xã thuyết là Nguyen Le Patriote tức là Nguyễn Ái Quốc, mà nhiều người cho đó là của một mình Nguyễn Tất Thành, tức là Hồ Chí Minh sau nầy. Nhưng sự thật do nhiều người đảm nhận, thay nhau viết, như Hoàng Quang Giụ, một chiến sĩ làm phụ tá cho Truyền, Hoàng Quang Bích, Văn Thu, Nguyễn Như Phong, Nguyễn Văn Tự v.v... Nhiều người viết cho một mục chung, chớ chẳng phải bút tự riêng cho một cá nhơn nào cả”.
Tác giả Phạm Quang Trình, trong quyển Chiến Đấu (trang 275), cũng đặt nghi vấn tương tự: “Có điều lạ là trong thời kỳ này, nhiều bút tích ký tên là Nguyễn Ái Quấc (lối nói của người miền Nam) chứ không phải là Quốc như lối nói của người miền Bắc và miền Trung (bản in ghi là Quốc khác với bút tích là Quấc), vậy phải chăng có hai hay một nhóm người dùng tên Nguyễn Ái Quốc mà sau này ông Hồ cố ý cầm nhầm chăng?”
Theo Phương Lan Bùi Thế Mỹ, thì quyển Kết Án Thực Dân Pháp (Le Procès de la Colonisation Francaise) do Nguyễn Thế Truyền là tác giả bán rất chạy ở Việt Nam cũng như ở Pháp (trang 90 sđd). Phạm Quang Trình cũng đặt nghi vấn về tác giả của bản văn đó như sau: “Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp là tập tài liệu tố cáo chính sách đàn áp bốc lột của Thực Dân Pháp đối với các dân tộc thuộc địa ở châu Phi và ở Đông Dương, trong đó có xứ An Nam. HCMTT/Tập 2 (tức là quyển Hồ Chí Minh Toàn Tập) viết rằng Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp được in lần đầu năm 1925 ở Paris bằng Pháp ngữ, do Nguyễn Thế Truyền đề tựa”. Tác giả Phạm Quang Trình cho rằng trong thời gian này ông Hồ đang hoạt động ở Nga, và từ lâu, nhiều nhân vật hoạt động cũng như dư luận đều cho rằng tài liệu này do một nhóm người hoạt động ở Pháp, chủ chốt là Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền cùng một số nhân vật khác ký tên chung là Nguyễn Ái Quấc hay Nguyễn Ái Quốc. Khi sang Nga làm việc cho Ban Phương Đông, ông Hồ đã lấy tên Nguyễn Ái Quốc làm tên riêng của mình và sau này cầm nhầm luôn tài liệu đó, tự cho mình là tác giả. Dư luận này đã được nhiều người chú ý và cho là khả tín.
Trong tác phẩm Chân Tướng Hồ Chí Minh (trang 47), Giáo sư Cao Thế Dung cũng nhận xét về sự việc mạo nhận bút danh Nguyễn Ái Quốc như sau:
“Nhóm Nguyễn Ái Quốc với cái tên chung xuất hiện trên một số báo như L‘Humanité, Le Libertaire, La Vie Ouvrière cũng đều do Phan Văn Trường hay Nguyễn Thế Truyền viết. Ông Hồ cũng nhìn nhận khả năng tiếng Pháp học trò của ông, nhưng Hồ đã lanh tay lấy tên Nguyễn Ái Quốc lúc bấy giờ đã nổi tiếng trên báo L‘Humanité của đảng Cộng Sản Pháp và với tên này, Hồ đi vào cộng đồng Cộng Sản và Thiên Tả Pháp. Hồ được Nguyễn Thế Truyền giới thiệu với các đồng chí của ông trong đảng Xã Hội và từ đảng Xã Hội, Hồ qua đảng Cộng Sản Pháp. Sự kiện minh chính rất rõ rệt, không có Luật Sư Phan Văn Trường và Kỹ Sư Nguyễn Thế Truyền thì không có Nguyễn Ái Quốc. Cái danh Nguyễn Ái Quốc và Bản Án Thực Dân Pháp là sản phẩm của Phan và Nguyễn. Ông Hồ chỉ là một thứ chầu rìa văn chương”.
Vào thời gian đó, cũng có những bài mang bút danh Nguyễn Ố Pháp, nhưng tính quá khích nầy bị Jacques Doriot của Đảng Cộng Sản Pháp trách cứ.
Hồ Chí Minh mang giả danh Nguyễn Ái Quốc cũng giống y như trong thơ ngụ ngôn có chuyện cáo đội lốt hùm để vay mượn oai vệ của chúa tể sơn lâm. Cho đến ngày 19-8-1945, khi Đảng Cộng Sản cướp chính quyền ở Hà Nội, thì toàn quốc không ai biết nhân vật Hồ Chí Minh là ai! Chính Cựu Hoàng Bảo Đại lúc đó ở Huế cũng không biết, ngài bèn hỏi Phạm Khắc Hoè. Hoè cũng không biết, bèn đi hỏi Tôn Quang Phiệt và Đào Duy Anh, thì cả 2 vị nầy cũng không biết. Vào lúc đó, Vũ Văn Hiền vừa mới từ Hà Nội về mới cho biết Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc. Khi Cựu Hoàng biết Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc thì Cựu Hoàng mới nói: “Nếu quả người cầm đầu Việt Minh là Thánh Nguyễn Ái Quốc, thì trẫm sẵn sàng thoái vị ngay”. Đó là lời thuật của Phạm Khắc Hòe (bài viết chung trong quyển Chín Chúa Mười Ba Vua, tác giả Tôn Thất Bình, trang 158).
Một nhân chứng ở Hà Nội là bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ cũng nhận xét về ý đồ dùng tên giả của Hồ Chí Minh như sau (trích Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ, trang 327):
“Tuy nhiên, xét kỹ thì một người đã mượn họ tên khác đặt vào mình trong một địa vị cao quý nhất của một nước, người ấy ắt có một tâm địa tráo trở. Vì lẽ gì đã phải dấu tên thực với quốc dân, với quốc tế? Những ngày đầu của chính quyền Việt Minh, trên mặt các báo có thấy nói đến tên Nguyễn Ái Quốc. Nhưng dụng ý là úp mở cho biết Hồ Chí Minh ngày nay tức là Nguyễn Ái Quốc trước”
Cụ Hồ Chí Minh Thật Là Ai
Nhưng biệt danh Hồ Chí Minh lại cũng không phải là tên cúng cơm của Bác. Trong quyển Anh Thư Nước Việt Từ Lập Quốc Đến Hiện Đại, tác giả Phương Lan viết về một vị anh thư tham gia cách mạng vào đầu thế kỷ 20 là bà Ngô Thị Khôn Nghi như sau (trang 238 sđd):
“Bà Ngô Thị Khôn Nghi, con gái cụ Ngô Quảng, một nhà Tiền bối cách mạng, một tướng lãnh xuất sắc trong nghĩa quân Cần Vương và Quang Phục ở làng Tam Đa, tổng Vạn Trình, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Bao phen vào sanh ra tử, qua nhiều lần thất bại, cụ Ngô Quảng phải bôn tẩu qua Xiêm rồi thất lộc ở đó. Cụ qua Xiêm đặng một năm, thì cụ có được hai người con, một trai một gái. Chị gái tức là Khôn Nghi, em trai tên Ngô Chính Học, được đoàn thể cách mạng đem sang Tàu cả hai”.
Trong cái chương của sách đã dẫn, tác giả Phương Lan cẩn thận đặt phụ đề là Ngô Thị Khôn Nghi, Vợ Cụ Hồ Chí Minh Thật và viết tiếp: “Bà Khôn Nghi qua Tàu cũng vào trường học, sau đó kết duyên cùng cụ Hồ Học Lãm. Bao nhiêu năm cụ Lãm hoạt động cách mạng Việt Nam, ở Tàu bao nhiêu năm thì bà Khôn Nghi cùng hoạt động cách mạng ở bên cạnh chồng và nhiều đồng chí khác. Nhóm làm cách mạng Việt Nam ở Tàu, không ai không biết gia đình này, từ người quốc gia cho tới người Cộng sản.”
Cụ Hồ Chí Minh thật đó, tức là Hồ Học Lãm, là con của Án Sát Hồ Bá Ôn, người đã hy sinh như một Liệt Sĩ Dân Tộc vì đã chiến đấu đến cùng khi Pháp đánh thành Nam Định năm 1883. Hồ Học Lãm tham gia phong trào Đông Du và Duy Tân do Phan Bội Châu lãnh đạo, sang Nhật du học rồi trở về Tàu, gia nhập Quân đội Trung Hoa QDĐ, mang quân hàm trung tá, là thành viên sáng lập VNCMĐMH năm 1936. Khi Hồ Học Lãm qua đời, thì nhân vật Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc xử dụng ba chứng minh thư của Hồ Học Lãm mang tên Hồ Chí Minh để che dấu tông tích cộng sản của mình, để tiện việc di chuyển trên đất Tàu, và chiếm luôn tên Hồ Chí Minh (vì vào lúc đó, Trung Hoa Dân Quốc dưới quyền Tổng Thống Tưởng Giới Thạch đã từ bỏ chính sách Liên Nga Dung Cộng nên không chấp nhận cộng sản).
Đến bây giờ, chúng ta đã biết Hồ Chí Minh thật là Hồ Học Lãm, con của Án Sát Hồ Bá Ôn, còn Hồ Chí Minh giả là con của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy tên Nguyễn Sinh Cung, sau đổi lại là Nguyễn Tất Thành. Biết là biết vậy thôi, nhưng giả đã biến thành thật quá lâu rồi, cho nên ta cứ đọc và hiểu rằng Nguyễn Sinh Cung là Nguyễn Tất Thành, là Nguyễn Ái Quốc, là Hồ Chí Minh, là là là... biết bao giả danh khác nữa! Nhưng biết là biết vậy thôi, cũng chưa đủ. Khi biết có hai Hồ Chí Minh, thì phải biết thêm một án mạng, nạn nhân là con gái Hồ Học Lãm, tức con của cụ Hồ Chí Minh thật. Chuyện do tác giả Nguyễn Thái Hoàng ghi chép trong bài Chân Dung Hồ Chí Minh Qua Bài Vè Dân Gian (Bài viết tại Hà Nội tháng 3-2006, Bán tuần báo Việt Luận đăng tải trong số 2052 ngày 17-3-2006) nguyên văn như sau:
“Khi con gái ông Lãm phát hiện ra, làm ầm ĩ trước cửa Phủ Chủ Tịch (Hà Nội) vào năm 1946, thì không biết Bác sai bảo ra sao mà trên đường bà này về thăm quê ở Thanh Hóa đã bị thủ tiêu bí mật”!
Bây giờ ta cứ xem những tên giả của Hồ Chí Minh như là những phép biến hóa thất thập nhị huyền công của Tôn Ngộ Không để tạo Hồ Chí Minh thành một con người muôn mặt, khi ẩn khi hiện, với hành tung kỳ bí như một nhân vật trong thần thoại. Vì thế cho nên, vào năm 1967 khi Oliver Todd, nhà văn và nhà báo Pháp, gặp Nguyễn Khắc Viện ở Hà Nội, thì Viện khoe với Oliver Todd rằng: “Bác Hồ của chúng tôi là huyền thoại sáng lập huyền thoại”. Khi nói như vậy, thì Viện chỉ làm bổn phận như một con vẹt lặp lại lời chủ, bởi vì trước đó 5 năm, vào tháng 7 năm 1962, trong cuộc phỏng vấn của Bernard Fall, chính Hồ Chí Minh đã thú nhận rằng mình là “một ông già thường thích thêu dệt một chút huyền thoại cho cuộc đời mình”.
Vào giữa năm 1923, với tư cách đảng viên Đảng Cộng Sản Pháp và mang tên Nguyễn Ái Quốc, ông Hồ được đảng cử đi dự Đại Hội V của Đệ Tam Quốc Tế (Komintern) và được cấp 1000 quan làm lộ phí (vào thời đó là một số tiền lớn, một sinh viên có thể sống trong 5 tháng). Sau một thời gian ngắn tạm trú ở Đức, Hồ Chí Minh được tổ chức làm cho một giấy thông hành để đi Mạc Tư Khoa với tên Chen Vang, trong giấy ghi ngày sinh là 15 tháng 2 năm 1895.
Đến Mạc Tư Khoa, mang tên là Nguyễn Ái Quốc, ông có đọc một bài diễn văn tại đại hội của Komintern. Sau bài diễn văn, ông được ký giả phỏng vấn và bài phỏng vấn được đăng trên trang nhất của báo kèm với ảnh của ông. Bỗng chốc, ông nổi tiếng lừng lẫy và được bầu vào Chủ Tịch đoàn của Đệ Tam Quốc Tế. Ông trở thành một Quốc Tế Ủy (Kominternchik). Ông đã chấm dứt giai đoạn đào tạo chiến sĩ Quốc Tế Cộng Sản của mình, và đạt được trình độ mà Đệ Tam Quốc Tế có thể phó thác cho ông những nhiệm vụ quan trọng.
Những Tên Giả Ở Trung Quốc
Sau khi thành Quốc Tế Ủy Kominternchik, ông Hồ làm việc ở Ban Phương Đông đến mùa thu 1924, rồi được gởi đến Trung Quốc. Đến Quảng Châu, ông không dùng tên Nguyễn Ái Quốc vì muốn che dấu tông tích cộng sản của mình. Đối với Trung Quốc, ông xưng là Lý Thụy (Li Fui). Đối với người Việt, ông là Vương Sơn Nhi, hay Lão Vương (thật ra, chữ Thụy chiết tự ra thành ba chữ Vương, Sơn, và Nhi). Khi viết cho tờ Quảng Châu Báo, ông dùng bút danh Trương Nhược Trừng. Trong một báo cáo trước đại hội đại biểu toàn quốc kỳ 2 Trung Quốc Quốc Dân Đảng về vấn đề giáo dục, ông dùng tên giả là Vương Đạt Nhân. Lúc đó chức vụ công khai của ông là thông dịch viên của ông Michael Borodin, cố vấn Nga bên cạnh chính phủ Quốc Dân Đảng của bác sĩ Tôn Dật Tiên. Ngoài ra, ông phiên dịch và làm phóng viên cho hãng Rosta (tiền thân của Tass) lương 150 đôla một tháng, với tên Nga Nilốpxki (Nilovskii). Thực ra, đó chỉ là bình phong vì ông phải dùng chiêu bài Chủ Nghĩa Dân Tộc để tuyên truyền Chủ Nghĩa Cộng Sản và thành lập các chi bộ cộng sản tại Đông Nam Á.
Những Tên Giả Ở Xiêm
Mùa thu năm 1928, với tên giả là Đào Cửu, ông xuất hiện lần đầu tiên tại vùng trung bộ nước Xiêm (bây giờ là Thái Lan). Vì chữ cữu là chín (số 9), cho nên có sách chép bí danh của ông lúc đó là Thầu Chín, có sách chép là Cha Chính, và công của ông đối với Đệ Tam Quốc Tế là thành lập đặng Chi Bộ Đảng Cộng Sản Xiêm vào tháng 4 năm 1930 gồm đa số là người Việt và Hoa. Trên đất Xiêm, Hồ Chí Minh cũng dùng một tên giả khác là Mai Pín Thầu.
Hồ Chí Minh Vói Tay Đến Đất Mã
Cuối năm 1929, theo chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản, Hồ Chí Minh đến Singapore công tác, và có lẽ trong thời gian nầy, ông móc nối được vài người Mã Lai nòng cốt cho Đảng Cộng Sản
Mã Lai sau nầy. Trong bài Mã Lai, Bài Học Còn Đó do Đ.Hòa lược dịch, (Bán tuần báo Việt Luận đăng lại ngày 8-5-2007), chúng ta trích được đoạn văn như sau:
“Chủ thuyết cộng sản được du nhập vào Mã Lai vào những năm đầu của thập niên 1920 khi một nhóm thuộc phần tử cực đoan Kuomingtang từ Trung Hoa di dân đến quốc gia nầy. Đến năm 1930, Đảng Cộng Sản Mã Lai (MCP) ra mắt tại Tân Gia Ba mà theo một cựu đảng viên cộng sản Mã Lai tiết lộ vào ngày 8 tháng sáu 2005 thì MCP do một người Việt Nam có tên là Yuen Ai Guo (Nguyễn Ái Quốc) và sau đó đổi thành Hu Chi Ming (Hồ Chí Minh) đứng ra thành lập. MCP sau đó được luật pháp Mã Lai thừa nhận, trở thành một chính đảng có sức mạnh đáng kể và được sự ủng hộ mạnh mẽ của giới lao nông”.
“Khi Hồ Chí Minh trở về Việt Nam thì y ta để lại Mã Lai một phụ tá mà cho đến nay, các tài liệu chỉ nhắc đến qua cái tên Trung Hoa là Loi Tek hoặc Lasi Tek hoặc Loi Teek hoặc Lai Teek. Tên này giữ chức Tổng Bí Thư MCP”.
Tên Victor Nguyễn Ái Quốc
Tháng giêng 1930, ông về lại Hương Cảng. Với tên Victor Nguyễn Ái Quốc ông nhận nhiệm vụ của Cục Phương Đông thống nhất 3 đảng cộng sản Đông Dương với những cương lĩnh mới, nhưng vẫn duy trì quyết nghị của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội trong đại hội năm 1929 là dốc toàn lực chống lại Việt Nam Quốc Dân Đảng bằng mọi cách. Cương lĩnh có ghi thêm nguyên văn như sau: “đối với Quốc Dân Đảng: thứ nhất, phải ra sức tranh thủ lực lượng của Quốc Dân Đảng, thứ hai, tổ chức đảng viên Quốc Dân Đảng vào Hội Phản Đế” (Trích từ bài Cuộc Khởi Nghĩa Của Việt Nam Quốc Dân Đảng Năm 1930 của Ký giả Hai Trang đăng ở Đặc San Việt Quốc, trang 37. Đặc san do Xứ Bộ Úc Châu, Khu Bộ Victoria phát hành).
Tên Giả Khi Bị Bắt
Từ 1930 đến đầu năm 1933, tại các vùng Thượng Hải, Hương Cảng, Cửu Long, Hạ Môn, ông vẫn dùng tên Lão Vương, nhưng khi bị bắt ở Thượng Hải thì ông khai là Tống Văn Sơ hay Đoàn Văn Sơ.
Tên Nga Khi Ở Mạc Tư Khoa
Khi được thả, ông về lại Mạc Tư Khoa. Ngày 16-9-1934, ông nhập học khóa tình báo ngắn hạng 6 tháng của KGB với tư cách là học viên nội trú của đại học Lênin, mang tên giả là Linov với bí số 375. Tại học viện Nghiên Cứu Các Vấn Đề Thuộc Địa, ông lãnh đạo tiểu tổ các học sinh Việt Nam và dùng tên giả là Lin.
Thêm Vài Tên Giả Ở Trung Quốc
Hồ Chí Minh rời Mạc Tư Khoa về lại Trung Quốc vào cuối năm 1938. Từ đó dến tháng 2-1941, ông hoạt động vùng Diên An, Hành Dương, Quế Lâm, Long Châu, Quí Dương, Trùng Khánh, Côn Minh, Tĩnh Tây và dùng các tên giả P.C.Lin, Hồ Quang (Hu Kwang), Lão Trần, Hoàng Quốc Tuấn. Ông lấy bút danh P.C.Lin để viết những bài gởi về Hà Nội đăng trong báo của Mặt Trận Dân Chủ do Võ Nguyên Giáp phụ trách. Tên giả Hồ Quang, với cấp bực thiếu tá, được dùng lúc ông công tác tại trạm liên lạc của Lộ Quân 8 Trung Cộng ở Quí Dương (tỉnh lị của tỉnh Quí Châu). Với bí danh là ông Trần, Hồ Chí Minh đến Côn Minh do tổ chức liên lạc của Trung Cộng tại địa phương.
Hồ Chí Minh dùng tên giả Hoàng Quốc Tuấn để đảm trách chức chủ tịch Việt Nam Dân Tộc Giải Phóng Ủy Viên Hội tại Tĩnh Tây mà 2 cán bộ chính là Dương Hoài Nam (Võ Nguyên Giáp) và Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng) với chủ trương Thân Hoa Kháng Nhật. Vào lúc đó, Trương Bội Công nhận được chi viện của tướng Trương Phát Khuê (Tư lệnh Chiến Khu 4 Trung Quốc), ông liền điều động Đội Công Tác Biên Khu Trung-Việt từ Liễu Châu về Tĩnh Tây, sát biên thùy Bắc Việt, để chiêu nạp thanh niên từ Việt Nam trốn sang. Các thanh niên sắc tộc từ Cao Bằng trốn sang đều đầu quân ở Đội Công Tác Biên Khu này. Biết được tình hình này, Hồ Chí Minh với giả danh Hoàng Quốc Tuấn chủ tịch VNDTGPUVH, đề nghị tái hợp tác với Trương Bội Công, và cho người len lỏi vào Đội Công Tác Biên Khu để đón người của Trương Bội Công đưa về huấn luyện theo chương trình riêng của mình. Đến tháng 2-1941, khi Hồ Chí Minh rời Tĩnh Tây về căn cứ Pác Bó ở Cao Bằng thì ông đã có một số cán bộ nhờ mưu lược lợi dụng tổ chức của Trương Bội Công.
Những Tên Giả Ở Hang Pắc Bó
Trong thời gian này, Hồ Chí Minh hoạt động khắp vùng rừng núi Việt Bắc với các tên giả Già Thu, Sáu Sán, Ong Ké. Sau đó, Hồ Chí Minh lại sang Trung Quốc và bị bắt vì bị tình nghi là gián điệp của Nhật. Lần nầy, ông được Trương Bội Công và Nguyễn Hải Thần bảo lảnh nên tướng Trương Phát Khuê mới trả tự do cho ông. Nhờ khả năng tình báo do KGB đào luyện, ông được tướng Trương Phát Khuê tin dùng và cho phục vụ trong tình báo Trung Hoa qua Bộ Tư Lệnh Đệ Tứ Chiến Khu ở Hoa Nam. Rồi từ tình báo của Trung Hoa, ông bắt liên lạc với tình báo Huê Kỳ do Charles Fenn và thiếu tá Archimedes Patti, đặc vụ phụ trách chiến trường Đông Dương của OSS (Office of Strategic Services), tiền thân của CIA, cơ quan Trung Ương Tình Báo Huê Kỳ. Ông trở thành một trong 25 điệp viên của Charles Fenn với bí danh Lucius bí số 19. Ông được Charles Fenn cung cấp cho 6 khẩu súng lục 38 cùng với 120 băng đạn.
Hồ Chí Minh dùng tên giả và bí danh rất nhiều, nhưng cũng có lúc ông viết bài mà không đề tên, cũng không đề là vô danh, chỉ để trống mà thôi. Đó là lúc thời cơ chưa thuận lợi, cho nên toàn bộ những bài viết của ông đăng trên 30 số báo Việt Nam Độc Lập từ tháng 8-1941 đến tháng 8-1942 đều không thấy ký tên.
Chúng ta đã lược qua những tên giả và bí danh Hồ Chí Minh đã dùng trong quãng thời gian rất dài từ lúc ông là anh Ba làm phụ bếp dưới tàu để đi Pháp năm 1911 đến lúc ông là Hồ Chí Minh tuyên đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1945 ở Hà Nội. Chỉ có một người tên cha sinh mẹ đẻ là Nguyễn Tất Thành, nhưng Hồ Chí Minh đã dùng những tên giả để đóng đủ các vai: đảng viên Đảng Cộng Sản Pháp, Quốc Tế Ủy (cán bộ nòng cốt) của Đệ Tam Quốc Tế, tình báo viên KGB, đảng viên Trung Cộng cấp bậc Thiếu Tá, sĩ quan phục vụ Trung Hoa Dân Quốc, điệp viên OSS của Huê Kỳ, và sau cùng là Bác Hồ Cha Già Dân Tộc. Dùng tên giả để che dấu tông tích của mình chưa đủ, Hồ Chí Minh còn dùng tên giả để viết sách tự đề cao mình. Đó là quyển Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch với bút danh Trần Dân Tiên, và với bút danh T.Lan ông viết quyển Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện. Lại còn một tên giả khác là Lê Nhân, ông dùng để viết bài giải thích thêm cho thật rõ những lời dạy dỗ của Hồ Chủ Tịch mà chính “Bác” đã viết trước đó.
Chuyện Hai Cha Con Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Trung!
Dùng tên giả mãi, rồi sau cùng Hồ Chí Minh cũng có lần dùng lại tên thật của mình là Nguyễn Tất Thành. Lúc đó là đầu năm 1955, Hồ Chí Minh về Hà Nội sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Genève. Tổng Cục Hậu Cần tìm được một thiếu nữ xinh đẹp người Nùng ở Cao Bằng tên Nông Thị Xuân (sau đổi thành họ Nguyễn) và đón cô về “phục vụ” cho ông. Đến cuối năm 1956, cô Xuân sinh được một đứa con trai và ông đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Qua cách đặt tên con như vậy, hiển nhiên ông nhìn nhận liên hệ phụ tử. Này nhé: cha là Nguyễn Tất Thành thì con là Nguyễn Tất Trung. Trong Tình Tự Dân Tộc, tên hai cha con hợp lại là Trung Thành, thật là có ý nghĩa, thật đẹp vô cùng!
Nhưng sự thực thật phũ phàng, không trung, không thành, không thủy chung gì cả! Sau khi sinh con, cô Xuân ngỏ ý với Bác muốn được ra chính thức. Cô ước muốn được làm mẹ và làm vợ trong một gia đình ấm cúng, với một người chồng yêu thương và bảo bọc mình. Lòng mong ước theo bản tánh thiên nhiên mà bất cứ người phụ nữ nào trong bất cứ xã hội nào cũng mong ước, nhưng niềm mong ước chính đáng đó lại là bản án tử hình của cô. Cô bị lên án tử hình mà cô không biết! Cô phải bị thủ tiêu để Bác được tiếng là Cha Già Dân Tộc suốt đời không lập gia đình để hy sinh trọn vẹn cho đất nước! Tên Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn của Bác nhận lịnh thi hành bản án, thấy cô Xuân quá đẹp nên hắn hiếp dâm cô nhiều lần, rồi đập đầu cô chết và quăng xác ra đường để ngụy tạo thành tai nạn giao thông. Đứa con Nguyễn Tất Trung của Bác vừa được vài tháng tuổi, chưa thôi nôi, chưa biết bò, thì đã mồ côi mẹ! Trong một chế độ thối tha ghê tởm như vậy mà có một nhạc sĩ văn nô sáng tác bài ca Ai Yêu Bác Hồ Hơn Chúng Em Nhi Đồng? để đầu độc lòng ngây thơ trong trắng của cả thế hệ thiếu nhi!
Về sự việc giết cô Nông Thị Xuân, nếu Hồ Chí Minh im lặng không nói tiếng nào thì thôi! Nhưng khi cô Xuân ngỏ ý muốn được Bác nhìn nhận là vợ chính thức, thì Bác ta lại lếu láo trả lời:
“Cô xin như vậy là hợp tình hợp lý, nhưng phải được Bộ Chính Trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được, nên phải chờ một thời gian nữa”.
Lời phát biểu của Hồ Chí Minh như vậy, khi ông nại tên những nhân vật trong Bộ Chính Trị để nói với cô Xuân, hiển nhiên là lời Nói Dối Chính Trị. Hồ Chí Minh đã dối trá với Dân Tộc bằng bản Tuyên Ngôn Độc Lập bịp bợm! Ông đã dối trá với cả thế giới bằng các quyển sách ông viết với giả danh Trần Dân Tiên và T.Lan! Còn đây là trường hợp ông dối trá với một thiếu nữ ngây thơ hết lòng trọn dạ trao thân gởi phận cho ông, sanh cho ông một đứa con, mà lại bị ông kết án tử hình! Khi cô Xuân ưng chịu “trao thân gởi phận” cho “Bác - Cha Già Dân Tộc”, “trao thân” cho Bác thì Bác lấy, nhưng Bác không chịu để cho cô Xuân “gởi phận” cho mình! Bác vô trách nhiệm như vậy mà cô Xuân không biết nên vẫn tin lời Bác, cô chờ cho đến khi bị Trần Quốc Hoàn hiếp dâm và bị đập đầu chết! Cô thật là “bạc phận” trao duyên lầm “Tướng Cướp”! Đến bây giờ, xin cầu nguyện với Hồn Thiêng Sông Núi đừng để cho Huyền Thoại Hồ Chí Minh dối gạt thêm ai nữa trong những thế hệ tương lai của Dân Tộc!
Chuyện Hai Thầy Trò Hồ Chí Minh Và Trần Quốc Hoàn
Cái chết bi thảm của cô Xuân là bằng chứng hùng hồn tố cáo Hồ Chí Minh là nhân vật lịch sử vô cùng gian xảo, khát máu, và đầy tham vọng. Thầy nào trò nấy: tên bộ trưởng công an Trần Quốc Hoàn của Hồ Chí Minh cũng tàn bạo, đê hèn, ghê tởm không bút mực nào tả xiết. Đồng thời, nó cũng tố cáo chế độ ông lập ra là một chế độ cực kỳ phi nhân và bạo ngược. Khi bị hiếp dâm, cô Xuân chống cự, xô Trần Quốc Hoàn ra và nói:
“Không được hổn, tôi là vợ ông chủ tịch nước”.
Trần Quốc Hoàn cười một cách nhạo báng:
“Tôi biết bà to lắm, nhưng bà phải biết sinh mạng bà nằm trong tay tôi”.
Rồi hắn nói tiếp:
“Sinh mệnh tất cả dân tộc Việt Nam, kể cả bố mẹ anh chị nhà bà cũng nằm trong tay tôi. Tôi muốn bắt bỏ tù, thủ tiêu đứa nào, tùy ý. Và tôi nói cho bà biết ông cụ già nhà bà cũng không ngoài tay vói của tôi”.
Tên bộ trưởng công an Trần Quốc Hoàn thỏa mãn thú tánh của mình trước rồi sau mới nghiêm chỉnh thi hành lịnh của Bác. Hắn tiếp tục giữ chức bộ trưởng công an và phục vụ đắc lực chế độ thêm 23 năm cho đến năm 1980, rồi an nhàn về phục viên đến 1986 mới mãn phần. Tên Bộ Trưởng Công An đầu tiên của chế độ Hồ Chí Minh, Trần Quốc Hoàn, đã phát biểu:
“Sinh Mệnh Tất Cả Dân Tộc Việt Nam Nằm Trong Tay Tôi”.
Thế mà hắn đã giữ chức vụ Bộ Trưởng Công An từ 1953 đến 1980, tất cả là 27 năm! Xuất thân là đầu trộm đuôi cướp, bị bắt giam về tội trộm cắp, và bị giam chung với đảng viên Cộng Sản. Trong tù, Hoàn được móc nối và gia nhập đảng. Thật sự Trần Quốc Hoàn là thành phần bất hảo và vô học. Nhưng ai phong cho hắn làm Bộ Trưởng Công An? Thì chính Hồ Chí Minh chứ ai! Nghĩ cho cùng, nếu có người nói “SINH MỆNH TẤT CẢ DÂN TỘC VIỆT NAM NẰM TRONG TAY HỒ CHÍ MINH. ÔNG TA MUỐN BẮT BỎ TÙ, THỦ TIÊU ĐỨA NÀO, TÙY Ý” thì người ấy cũng không nói sai sự thực! Hồ Chí Minh đã dày xéo Dân Tộc bằng bàn tay của Trần Quốc Hoàn! Thật khổ cho người dân cứ tưởng “Bác” là Cha Già Dân Tộc!
Bác Dối Trá Với Sinh Viên
Giết cô Xuân vào đầu năm 1957, thì chỉ mấy tháng sau, khoảng cuối năm 1957, Hồ Chí Minh vào thăm trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội. Trong buổi nói chuyện thân mật với sinh viên, Bác ra cái điều thành khẩn: “Bác có hai tật xấu, các cháu không nên bắt chước. Một là hút thuốc. Hai là không lấy vợ”. Câu chuyện Bác Hồ vào thăm sinh viên và khai rằng mình không lấy vợ là do Hoàng Quốc Kỳ thuật lại trong quyển Ma Đầu Hồ Chí Minh (trang 17). Cũng như trong cuộc phỏng vấn của tác giả Bernard Falls vào năm 1967 về câu hỏi “vợ con”, Bác đã trả lời rằng tất cả chỉ là tin đồn sai sự thực.
Bác Còn Tệ Hơn Đạo Quân Xâm Lược Nhật Bản
Chuyện thực giả quá rõ ràng, nhưng những sự việc sau đây là do tưởng tượng của người viết, cũng xin mời quý bạn đọc chơi cho biết. Thời gian thấm thoát thoi đưa, các cháu của Bác Hồ tham dự buổi nói chuyện hôm ấy vào cuối năm 1957, đến bây giờ là đầu thiên niên kỷ thứ ba, 50 năm đã trôi qua, chúng đã thành những bậc lão niên thất thập cổ lai hi rồi. Hẳn là có một số cháu đã sinh Bắc tử Nam hoặc chết rục trong ngục tù cộng sản vì liên can tới vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Hẳn là có một số cháu ngoan vẫn giữ vững niềm tin Bác Hồ của mình là Cha Già Dân Tộc suốt đời không lấy vợ. Chắc chắn cũng có một số cháu không tin như vậy và lý luận rằng Bác không lấy vợ làm sao Bác có con, vậy chớ Nguyễn Tất Trung là con của ai, nếu cô Xuân không phải là vợ của Bác thì là gì, chẳng lẽ Bác xem cô Xuân là an ủy phụ như đạo quân xâm lược Nhật Bản trong thời Đệ Nhị Thế Chiến xử dụng phụ nữ các nước bị chiếm đóng làm comfort women để giải quyết sinh lý cho binh sĩ lúc xa nhà. Tại sao Bác lại xử tử cô Xuân, so sánh với đạo quân xâm lược Nhật Bản, Bác còn tệ hơn họ vì họ không tàn sát những comfort women của họ!
Chuyện Hồ Chí Minh Và William J. Duiker
Quý độc giả thân mến, quý bạn vừa đọc “Chuyện Hai Cha Con Nguyễn Tất Thành Và Nguyễn Tất Trung”, tiếp theo là “Chuyện Hai Thầy Trò Hồ Chí Minh Và Trần Quốc Hoàn”, tại sao bây giờ lại có “Chuyện Hồ Chí Minh Và William J. Duiker”, người viết xin trả lời ngay. Chẳng qua là vì tác giả Duiker đã viết về Hồ Chí Minh, và đã xem Hồ Chí Minh như một thân nhân trong gia đình của mình! Quyển sách Duiker viết là quyển Ho Chi Minh, A Life. Quyển sách thật đồ sộ, dài 700 trang, mất 20 năm mới được viết xong. Tác giả Duiker hưởng được phương tiện dồi dào để đi khắp nơi trên thế giới thu thập tài liệu, thảo luận với những tác giả trước đó đã viết về Hồ Chí Minh, và phỏng vấn rất nhiền nhân vật quan trọng trong chính phủ. Kết quả là quyển Ho Chi Minh, A Life được đánh giá là quyển sách đầy đủ nhất và có uy tín nhất từ trước đến nay trong loại thư mục về Hồ Chí Minh.
Hoàn thành xong đại tác phẩm đó, trong Lời Phi Lộ tác giả Duiker cảm ơn hai người con gái của ông, Laura và Claire, đã chịu đựng hàng giờ (và hàng năm) để nghe ông nói như giảng kinh về chuyện Việt Nam. Tác giả Duiker cũng mãi mãi thiết tha tri ân vợ là Yvonne vì nàng đã đọc bản thảo và đã tỏ ra kiên nhẫn chịu đựng Hồ Chí Minh trong nhiều dịp như là một thân nhân trong gia đình. Thật đẹp vô cùng, tình cảm tác giả Duiker dành cho vợ con ông và nhân vật Hồ Chí Minh qua Lời Phi Lộ đó! Một cách tế nhị, Duiker chứng tỏ ông là người chồng thương vợ và người cha thương con.
Nhưng thật hoàn toàn trái ngược với tác giả Duiker, Hồ Chí Minh lại là người chồng bất nghĩa đã giết vợ! Tuy Hồ Chí Minh không hề xem cô Xuân là vợ, nhưng theo Tình Tự Dân Tộc thì “Một ngày cũng nghĩa vợ chồng”, ông bà ta đã theo nếp sống đẹp như vậy! Ông cũng là người cha bất nhân đã hại con mình phải mồ côi mẹ khi đứa bé còn chưa biết bò! Hồ Chí Minh bất nhân bất nghĩa như vậy thì làm sao xứng đáng là người thân của gia đình Duiker! Nếu áp dụng đúng luật pháp của Hoa Kỳ, thì Hồ Chí Minh phải bị truất phế khỏi chức vị lãnh tụ mà còn phải ngồi tù đền tội sát nhân, tác giả Duiker lấy đâu ra đề tài để viết. Người viết không hề muốn làm phiền lòng vợ con tác giả Duiker nhưng vì quyển sách Ho Chi Minh, A Life đã gây thiệt hại cho Dân Tộc Việt Nam quá nhiều!
Tác giả đã đứng về phe phái Hồ Chí Minh trách cứ tổng thống Truman đã không chịu cứu xét lá thư của Hồ Chí Minh xin ủng hộ, vì thế cho nên chiến tranh mới xảy ra thảm khốc. Vì tác giả Duiker đã viết cả 10 quyển sách về Việt Nam, ông không phải là một sử gia bậc thường, cho nên Dân Tộc Việt Nam chúng ta có quyền trách cứ ông, sử gia Duiker, tại sao ông lại bỏ qua không có một lời nào nói đến Thông Điệp của Vua Bảo Đại ngày 20-8-1945 gởi đến Tổng thống Truman, Quốc vương Anh George Đệ Lục, Thống chế Tưởng Giái Thạch, và cả Tướng Charles de Gaulle để xin công nhận nước Việt Nam độc lập ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh! Thông điệp của vì vua đã hy sinh ngai vàng của mình cho Nền Dân Chủ của Đất Nước không đáng quý trọng hay sao?
Chuyện Duiker Và Trần Khải Thanh Thủy
Chương viết về Hồ Chí Minh, Kẻ Mang Tên Giả nầy sẽ không trọn vẹn nếu không đối chiếu tác giả Duiker với một nhà văn nữ ở Hà Nội. Đó là Trần Khải Thanh Thủy, người từng được giải thưởng quốc tế Hellman Hemmet nhờ viết bài binh vực và đòi nhân quyền cho dân oan, nhưng lại bị Đảng khai trừ khỏi Hội Nhà Văn và bị trù dập thậm tệ. Duiker viết quyển Ho Chi Minh, A Life với phương tiện của một đại gia triệu phú. Chỉ một việc ông đã bay đi khắp nơi trên thế giới, kể cả qua Liên Xô, để thu thập tài liệu cũng đủ làm bàng hoàng các cây viết sử ở những nước nghèo. Nhà khảo cứu Minh Võ, trong quyển Hồ Chí Minh, Nhận Định Tổng Hợp đã viết như sau (trang 53):
“Để hoàn thành tác phẩm, Duiker đã dành 20 năm cho việc đọc và gặp gỡ các tác giả đi trước, những người cầm bút ở Mỹ, Úc, Âu Châu, Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản… Ông nêu hàng loạt tên tuổi, trong đó phần lớn là viên chức các cơ quan tại Hà Nội như Viện Mác Lênin, Viện Sử Học, Đại Học Hà Nội và những nhân vật Cộng Sản Việt Nam mà ông gọi là các học giả và nhà nghiên cứu thường quan tâm đến Hồ Chí Minh hay tới cuộc cách mạng Việt Nam. Một số người còn được ông nêu đích danh như Nguyễn Huy Hoàn ở Viện Bảo Tàng Hồ Chí Minh, Trần Thanh, bốn nhà sử học Phùng Hữu Thu, Lê Mậu Hân, Phạm Xanh, Phạm Công Tùng cùng các nhân vật Hà Huy Giáp, Đặng Xuân Kỳ, Đỗ Quang Hưng, Ngô Phương Ba, Văn Tạo, Trần Hữu Đính, kể cả Lưu Doãn Quỳnh thuộc Viện Liên Lạc Quốc Tế của Cộng Sản Việt Nam…”
Với phương tiện dồi dào như thế đó, Duiker lại chọn được đề tài ăn khách là viết về Hồ Chí Minh, cho nên quyển Ho Chi Minh, A Life hẳn là quyển sách ăn khách nhất (best seller) trong mục loại đó. Trong nền kinh tế thị trường ở Hoa Kỳ là nước giàu nhất thế giới, quyển Ho Chi Minh, A Life hẳn đã gặt hái thành công rực rỡ. Những hàng chữ cuối cùng của quyển sách thành công rực rỡ đó, tác giả Duiker dành để viết những lời trang trọng cho Hồ Chí Minh như sau (Ho Chi Minh - A Life, ấn bản Úc Châu, trang 577):
“Di sản của Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc dù được người đời phán xét bằng bất cứ lời lẽ nào, ông cũng đã đoạt được ngôi vị trong đền thờ anh hùng cách mạng có quá trình tranh đấu để cho những người cùng khổ khắp nơi trên thế giới được cất lên tiếng nói của mình.”
Quyển Ho Chi Minh, A Life được ấn hành ở Hoa Kỳ và Úc Châu năm 2000, thì 25 năm trước đó, vào ngày 2-9-1975, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khánh thành lăng của chủ tịch họ Hồ ở công trường Ba Đình, Hà Nội. Xác ướp Hồ Chí Minh được đặt trong quan tài bằng thủy tinh trong suốt, trong phòng điều hòa không khí quanh năm để cho du khách khắp nơi đến chiêm ngưỡng. Rồi từ đó về sau, mỗi năm lăng Hồ Chí Minh gây tốn hao cho công quỷ không biết bao nhiêu triệu đô la (100 tỷ đồng Việt Nam theo kỹ sư PN Đỗ Nam Hải trong tác phẩm Hãy Trưng Cầu Dân Ý, trang 190), trong lúc vô số hộ gia đình cần giúp đỡ để xóa đói giảm nghèo.
Trong một nước nghèo khổ cùng cực như Việt Nam hiện nay, chi tiêu một ngân khoản khổng lồ để điều hành và bảo trì xác ướp Hồ Chí Minh là một nghịch cảnh đau lòng. Xác ướp Hồ Chí Minh lại được trang điểm bằng chiếc quần kaki có một miếng vá, chứng tích vô cùng thô bỉ của đạo đức giả, chứng tích nói lên tính gian xảo lừa bịp của Hồ Chí Minh suốt cả cuộc đời và của cả cái đảng do ông thành lập! Tới đây, người viết xin mượn nguyên văn lời đối đáp của Trần Văn Thủy với Nguyễn Thị Hoàng Bắc trong quyển Nếu Đi Hết Biển (trang 87). Khi Hoàng Bắc nói đến số tiền người Việt ở nước ngoài gởi về hàng tỷ Mỹ Kim thì cán bộ Trần Văn Thủy gạt ngang và nói: “Tôi nghĩ chúng ta không nên xen chuyện tiền bạc, trần tục vào câu chuyện nghiêm chỉnh như thế này.” Chúng ta rất đồng ý với Trần Văn Thủy không nên xen vấn đề tiền bạc trần tục vào việc nghiêm chỉnh như việc thờ kính các bậc anh hùng dân tộc. Điều nghiêm chỉnh là chúng ta hãy xem lại lời xưng tụng của tác giả Duiker “quá trình tranh đấu của Hồ Chí Minh để cho những người cùng khổ khắp nơi trên thế giới được cất lên tiếng nói của mình” có nghiệm đúng hay không?
Không đúng! Hoàn toàn sai! Lời xưng tụng của Duiker hoàn toàn sai! Phải bỏ ngay vào Sọt Rác Lịch Sử! Hồ Chí Minh không hề tranh đấu cho Dân Chủ và Nhân Quyền! Hồ Chí Minh đã đi theo Stalin, tức là đã đi theo “Cuộc Cách Mạng Đã Bị Phản Bội”! Hồ Chí Minh chỉ tranh đấu để mang lá cờ đỏ của Lenin đi khắp nơi và để xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam tàn bạo, độc tài, tham lam, và bần tiện nhất trong lịch sử loài người!
Ngày 27-10-2006, ngay trong thành phố Hà Nội, trái tim của nền Văn Hóa Việt Tộc, thủ đô của nước CHXHCN Việt Nam, không xa Lăng Bác Hồ, căn hộ nghèo của nhà văn nữ Trần Khải Thanh Thủy ở phường Đống Đa đã bị Chủ Tịch Phường, Bí Thư Đảng Ủy, cùng Tổ Trưởng Dân Phố huy động một đám đông 100 người đến đập phá nhà cửa tan hoang một cách dã man rừng rú và còn hành hung đánh đập hai vợ chồng. Kính cửa sổ bị đập bể nát trong lúc mùa đông đang đến. Giường ngủ của họ bị 10 người mang cả giày leo lên dậm sập. Hai cô con gái tuổi học trò của họ ngơ ngác hoảng loạn!
Điều nghiêm chỉnh ở đây là chính nhà văn nữ Trần Khải Thanh Thủy cũng là người thấp cổ bé miệng trước quyền thế cực kỳ hung bạo của Đảng. Nhưng bà lại can đảm đứng lên, cất cao tiếng nói của mình để giúp những người dân oan khiếu kiện đòi lại tài sản, đất đai đã bị những “Đảng Ủy Kách Mệnh” của Hồ Chí Minh cướp giựt. Những bài phóng sự của bà đã xuất hiện thường xuyên trên những trang báo và diễn đàn điện tử ở hải ngoại để tạo thêm sự hỗ trợ cho những người dân thấp cổ bé miệng hơn bà. Chính vì thế mà bà bị “Kách Mệnh” trừng phạt! Đảng cho “Côn Đồ Kách Mệnh” đến đánh đập vợ chồng bà chưa đủ, đập phá tan hoang căn hộ nghèo của bà chưa đủ, nên sau đó Đảng còn bắt bà vào tù theo Luật Rừng của Đảng!
Lời tác giả Duiker tôn vinh Hồ Chí Minh thật không nghiêm chỉnh tý nào! Ví như một vỡ hài kịch thô bỉ hạ cấp được diễn trong một nhà hát rộng lớn nguy nga mà không có khán giả, hàng ghế đầu chi loe que vài quan chức đỏ có giấy mời nên vỗ tay khen rối rít. Người viết chân thành không muốn máng từ “văn nô” vào văn nghiệp của tác giả Duiker, nhưng ông thật không thận trọng khi xử dụng những văn liệu từ các cây viết của Bắc Bộ Phủ. Tác giả Duiker có thấy Linh mục Lê Văn Lý bị bịt miệng ngay giữa toà án hay không? Lời Duiker tôn vinh Hồ Chí Minh đó phải vất vào Sọt Rác Lịch Sử thôi! Đảng lại còn muốn chuyển ngữ cả quyển “Ho Chi Minh, A Life” ra tiếng Việt để vất luôn vào Sọt Rác Lịch Sử hay sao!?
Đi Tìm Út Huệ Thứ Hai Cho “Bác”
Trở lại chuyện cô Xuân, có câu hỏi tại sao Bác lại ra lịnh thủ tiêu cô Xuân dễ dàng như vậy? Tại sao Bác không có lòng thương hoa tiếc nguyệt như lối diễn tả của các bậc thi bá thi hào thuở xưa? Có phải vì Bác đã có sẵn những cô Hạ, cô Thu, cô Đông, cô Thanh Minh, cô Đoan Ngọ hay chăng? (xin mượn chút văn phong của nữ sĩ Dương Thu Hương). Câu hỏi đặt chơi cho vui vậy thôi, không ngờ lại đúng! Trong cung đình Hang Pác Bó của Bác, có biết bao nhiêu chuyện bí mật còn chờ bật mí. Xin mời quý bạn theo dõi câu chuyện do Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh tâm tình với Hoàng Dũng, người phụ tá một thời của ông mà ông rất tin cẩn. Buổi tâm tình đó liên quan đến rất nhiều chuyện bí mật và Hoàng Dũng viết lại thành bài Những Bí Ẩn Về Tân Thủ Tướng Việt Nam (Báo Việt Luận ở Úc Châu đăng lại ngày 31-10-2006). Người viết chỉ xin trích những phần liên quan đến Hồ Chí Minh. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, người Hưng Yên miền Bắc, vào Sài Gòn hoạt động năm 1939 và đã ở miền Nam suốt 50 năm sau đó. Lúc ông giữ chức Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam, ông nhận lịnh của Bộ Chính Trị (lúc đó do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lãnh đạo) phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ du kích miền Nam một vài cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ Chính Trị. Tại sao phải tìm con gái miền Nam để phục vụ Bác? Do công sưu tầm của nhà văn Sơn Tùng thì từ thuở còn thanh niên, Bác đã có một mối tình đầu rất đẹp với một người con gái miền Nam. Sơn Tùng công bố trong bài viết Đi Tìm Út Huệ. Do vậy Bác có ấn tượng và thiện cảm với những người phụ nữ Nam Bộ. Vào lúc đó thì Võ Văn Kiệt là Ủy viên Trung Ương Cục được Nguyễn Văn Linh tin dùng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt này, nhiệm vụ tìm cho Bác Một Út Huệ Thứ Hai. Theo lời Hoàng Dũng thì vào lúc ông Nguyễn Văn Linh thố lộ những chuyện thâm cung bí sử trong Trung Ương Đảng Cộng Sản thì ông đã về nghỉ, ông trở nên trầm tư và đôi khi sự thất vọng và u uẩn hiện rõ trên nét mặt và trong thái độ của ông. Ông đã vượt qua ngưỡng cửa Cổ lai hy, như vậy không thể cho ông nói thiếu chính xác được và cũng không thể nói ông dèm pha bêu xấu Đảng được.
Nguyễn Thị Minh Khai Là Vợ Của Ai?
Tác giả Nguyễn Thuyên trong quyển Bộ Mặt Thật Của Hồ Chí Minh (trang 127) đã liệt kê một danh sách dài những người tình hoặc vợ hờ của Bác như sau: “Vợ Tàu, vợ Pháp, vợ Nga, ở đâu Hồ Chí Minh có mặt là có nhân tình ở đó. Ngày mới đặt chân đến Pháp đã viết thơ tình cho cô Bourdon - bị cô này từ chối, rồi cặp bồ với Brière. Qua Nga dan díu với cô Véra Vasiliera, khi qua Tàu thì yêu cô Tuyết Cần, cô Tăng Tuyết Minh. Lúc ở Hong Kong thì sống chung với cô Lý Sâm. Trong lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam ai cũng tưởng Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong (tức là Lê Huy Doãn). Nhưng khi Cộng Sản Liên Xô sụp đổ, nhà báo Sophia Quinn Judge đã tìm thấy trong hồ sơ Quốc Tế Cộng Sản ở Mạc Tư Khoa thì trước đó Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Hồ Chí Minh, sau mới lấy Lê Hồng Phong. Về hang Pắc Bó, Hồ Chí Minh lấy một thôn nữ hầu cận “Bác” tên Phá Thị Nùng, sinh được một con trai. Sau đó Phá Thị Nùng bỗng nhiên biến mất không trở lại thôn bản Cao Bắc Lạng nữa.”
“Năm 1942, nhiều người Việt tham gia hoạt động chống Pháp tại Liễu Châu, trong số đó có Đỗ Thị Lạc (chị Thuần) theo học lớp truyền tin, rồi trở về Việt Nam hoạt động. Hồ Chí Minh cũng dan díu với chị Thuần có một con. Sau đó chị Thuần cũng không còn thấy xuất hiện.”
Chuyện vợ con của Bác Hồ, viết bao nhiêu cũng không hết được, nếu không thêm vào một chuyện: người ta đồn rằng nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Thập là “Bác Gái”. Theo tác giả Lê Minh Khôi, trong Hồ Chí Minh Chính Truyện (trang 165), thì Nguyễn Thị Thập nguyên là nữ giao liên trên tuyến đường Vũ Nhai - Bắc Sơn, sau được Hồ Chí Minh phong chức Chủ Tịch Hội Phụ Nữ.
Trở lại chuyện các cháu của bác Hồ, trong số các cháu ấy, phân loại ra thì có cháu ngoan và cũng có cháu không ngoan. Chỉ riêng về việc Bác Hồ của chúng có vợ hay không, chúng đã chia làm hai nhóm và luôn luôn bất hòa, tranh luận không ngớt, nhóm nào cũng giữ vững lập trường của nhóm mình. Xin các chính trị gia, tư tưởng gia, những nhà giáo dục, những bậc ưu thời mẩn thế hãy tìm dùm một phương cách cho hai nhóm cháu này được nhất trí và đừng tranh luận nữa. Hãy khoan bàn chuyện Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc. Có những việc nhỏ nhoi về Hồ Chí Minh cần phải bàn và giải quyết trước cái đã!
Năm Sinh Nào Là “Thứ Thiệt” của Bác
Tác giả Bùi Tín đã viết: “Không ai biết năm sinh “thứ thiệt” của ông Hồ là năm nào!” Hồ Chí Minh khai đủ các năm, tùy nơi, tùy lúc. Trong sách Trần Dân Tiên, ông khai 1890. Khi là Yên Sơn, một bí danh khác của ông, ông khai 1891. Trong đơn xin nhập học Trường Thuộc Địa của Pháp, ông khai 1892. Với Sở Cảnh Sát Pháp ở Paris, ông khai 1894. Với sứ quán Nga ở Bá Linh để xin qua Nga học, ông khai 1895. Chị Ba Sophia của Bùi Tín nghiên cứu tài liệu trong Kho Lưu Trữ của Liên Xô cũng cho biết: “Tài liệu năm 1934 ông khai 1894, và tài liệu năm 1938 ông ghi là sinh năm 1893!”
Trong bài viết Đừng Hiểu Sai, Viết Lầm Về Hồ Chí Minh, tác giả Nguyễn Tường Bá có lời khuyên phải rất thận trọng về “Bác Hồ” và viết:
“Tìm hiểu năm nào đúng là việc làm vô bổ và chúng ta chỉ cần ghi nhận khi cần trẻ để du học thì Bác khai trẻ hơn, và khi về nước Bác lại khai già hơn, tất cả là do nhu cầu thực tế và sự khôn vặt của Hồ”.
Thật đúng vậy, nhất cử nhất động của Hồ Chí Minh đều nằm trong “sự tính toán sách lược” (chữ của Lữ Phương). Vì khi về nước để làm Cha Già Dân Tộc, thì Bác phải điều động cho Trần Dân Tiên khai năm sinh là 1890 để cho Bác được 55 tuổi! Hồ Chí Minh Đúng Là Biểu Tượng Của GIAN XẢO CÓ TÍNH TOÁN THEO SÁCH LƯỢC! Bây giờ, có cháu nào còn tin được “Bác Hồ”!
Di Chúc Nào Là “Thứ Thiệt” Của Bác
Về năm sinh của “Bác” thì có năm ba năm khác nhau. Về tên giả của “Bác” thì không biết cơ man nào mà kể. Cho đến di chúc của “Bác” cũng nằm trong hào quang tuyên truyền của Đảng. Có Di chúc 1, mà lại có Di chúc 2. Thế nên thực hư, chân giả, thiện ác nhòa nhập thành một khối hổn loạn khôn phân! Dân Tộc không biết tin cái nào? Ai cũng biết khi Hồ Chí Minh qua đời ngày 2-9-1969 và được phát tang ngày 3-9-1969, ông để lại Di chúc rằng sẽ đi gặp các ông Tổ Cộng Sản Mác, Lê, v.vân… Mãi đến cuối thập niên 80, người ta thấy xuất hiện ở Pháp một Di chúc khác đề ngày 14-8-1969, nói là do Hồ Chí Minh viết để lại cho đứa con gái lai tại Pháp. Bản chụp Di chúc 2 này do một người Pháp ở Paris gởi cho Luật sư Nguyễn Văn Chức ở Hoa Kỳ, kèm theo bản chụp bút tự của Hồ Chí Minh để chứng tỏ Di chúc là do chính tay Bác viết. Sau đó Luật sư Chức đưa câu chuyện về Di chúc 2 lên internet của Thư Viện Toàn Cầu ngày 10-5-2007.
Trong Di chúc 2 này, Hồ Chí Minh kể lể:
“Vừa mới đây, Lê Duẩn có đi với Trần Quốc Hoàn tới gặp tôi, buộc tôi phải viết bản di chúc theo ý họ.Tôi đã viết, mà trong bụng thì tấm tức vô cùng.”
Ông lại có lời hối hận rằng:
“Cái nhầm tai hại nhất của tôi là đi theo cộng sản Mác Xít mà không biết là chủ nghĩa này dần dần trở thành lạc hậu và phản động, những người đi theo Mác Xít chỉ là giả bộ, để đánh lừa giai cấp nghèo mà cướp lấy chánh quyền cho nước Nga.”
Hồ Chí Minh cũng nói về việc tặng Tổng thống Ngô Đình Diệm 2 cành đào vào đầu năm 1963 với bức thư đề nghị cụ Ngô cùng ông “thảo luận trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân 2 miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giàu nước mạnh, theo đường lối riêng của từng người”. Ông viết tiếp rằng chuyện vỡ lở ra, cho nên cụ Ngô bị giết ở trong Nam, còn ở ngoài Bắc ông bị kiểm soát rất khắt khe, không có quyền quyết định gì nữa cả. Sau vụ đó ông than rằng:
“Đáng lẽ ra thì tôi bị giết ngay từ hồi đó rồi, nhưng tên tôi còn bị thế giới biết đến, nên họ còn phải lợi dụng mà để cho tôi sống thêm. Tôi đã già, râu tóc đã bạc mà còn phải sống trong cảnh ngục tù, cứ nghĩ đến điều này là tôi ứa nước mắt”.
Ở phần cuối di chúc, ông không nhắc nhở gì tới đứa con Việt Nguyễn Tất Trung mà chỉ nói:
“Tôi không có vợ, nhưng cũng có được một đứa con gái lai Pháp. Tôi ước mong con gái tôi khi đọc được tờ di chúc này sẽ tha thứ cho tôi không đủ bổn phận làm cha, nhưng phụ tử tình thâm, tôi luôn luôn nhớ tới con gái tôi với muôn vàn âu yếm”.
Người viết xin miễn bàn về Di chúc 2 này. Bây giờ thì thực giả khôn phân vì Đất Nước đã có quá nhiều giả dối!
Đất Nước Quá Nhiều Giả Dối!
Câu chuyện tràng giang đại hải về tên tuổi của Bác, nói tới đâu cũng không đủ. Còn có 4 tên là Nghe Lỏm, CB, Trần Lực, Yên Sơn, người viết chưa tìm ra bản văn mà Bác đã ký đề bằng các tên ấy. Nhưng thôi, ngần ấy giả dối gian xảo của Bác cũng tạm đủ để dân tộc biết Bác là thủ phạm đã lường gạt Dân Tộc bằng cách xây dựng Thiên Đàng Xã Hội Chủ Nghĩa Bánh Vẽ, bằng Bản Tuyên Ngôn Độc Lập giả dối, bằng cuộc Cách Mạng Dân Tộc mị dân, xây dựng một xã hội đầy dối trá gian xảo, mồ liệt sĩ giả, nhà tình thương giả, tiền polymer giả, anh hùng tí hon Lê Văn Tám giả (tự đốt mình chạy vào kho đạn của Pháp để kho đạn phát nổ), chiến sĩ Nguyễn Văn Cừ giả (lấy thân mình lấp ổ châu mai), chiến sĩ Phan Đình Giót giả (đã bị thương nhưng vẫn lấy vai mình cho đồng đội tựa trung liên mà bắn máy bay địch), chiến sĩ Bế Văn Đàn giả (lấy thân mình chặn bánh xe đại pháo cho khỏi tuột dốc), bằng cấp giả, thí sinh vào phòng thi công khai dùng phao, các sư cha quốc doanh tu hành giả dối, chiếm đoạt chùa chiềng để làm kinh tài cho Đảng, tham gia chính trị thì được phong chức dân biểu quốc hội còn các nhà sư đạo hạnh và các vị linh mục chân chính thì bị tố cáo là lo làm chánh trị, bầu cử thì theo kiểu Đảng Cử Dân Bầu, quốc hội dân biểu giả không lo việc dân vì dân biểu biến thành Đảng Biểu và quốc hội biến thành Đảng Hội, cán bộ có quyền có chức thì lo tư túi, nhận công trình xây cất thì lo rút ruột, cán bộ tham nhũng bị bắt thì lo chạy án, cán bộ cai quản lâm trường bảo vệ môi sinh thì biến thành lâm tặc, cán bộ muốn làm ăn trái pháp luật thì phải tìm ô dù, ăn cắp công quỹ thì phải dọn dẹp sạch sẽ để hạ cánh an toàn, người dân đến cửa công để xin giấy tờ thì phải biết vấn đề đầu tiên...
Người Cha Bất Nhân, Người Chồng Bất Nghĩa
Trong truyền thống Dân Tộc với Luân Thường Đạo Lý và Lễ Nghĩa Liêm Sỉ, chúng ta ngậm ngùi thương tiếc những ngày xa xưa khi chúng ta thấm nhuần nếp đạo Tu Tề Trị Bình và lấy đó làm khuôn vàng thước ngọc. Đạo Làm Người, tức là Nhân Đạo, không phải chỉ là giáo lý riêng của Khổng Giáo mà chính là căn bản đạo đức chung của nhân loại. Ngày hôm nay, trong những quốc gia dân chủ được tự do bầu cử, những chính trị gia khi ra ứng cử, thường trình cho cử tri đoàn biết hình ảnh gia đình êm ấm với cảnh vợ con đề huề hiếu thuận, vì đấy là một lợi điểm dễ chiếm cảm tình của cử tri, vì hình ảnh gia đình êm ấm thuận hòa là hướng tiến hóa của nhân loại, là giấc mơ thơ mộng ngàn đời của loài người.
Trở lại chuyện Hồ Chí Minh với việc giết cô Xuân, cướp đoạt Quyền Sống và Quyền Làm Mẹ của cô cùng với Quyền Được Hưởng Tình Mẫu Tử Thiêng Liêng của con ông, chỉ vì chút hư danh làm Cha Già Dân Tộc, ông đã nhúng tay vào máu và phạm vào tội ác vô cùng kinh tởm để trở thành Người Cha Bất Nhân Người Chồng Bất Nghĩa Trong Lịch Sử Việt Nam. Nhân đây xin nhắc lại lời của đức Mạnh Tử:
“Nếu phải giết một người vô tội để lấy hết thiên hạ thì đó cũng là chuyện không nên làm”.
Nhưng trong con người duy vật vô thần của Hồ Chí Minh chỉ có toàn Mác, Lenin, Stalin, và Mao, chứ nào đâu có Khổng Mạnh cùng Đức Phật và Đức Chúa, cho nên ông đã đạp đổ Tu Tề còn phép Trị Bình của ông thì không phải do Đạo Nghĩa Pháp Trị mà chỉ áp đặt bằng gươm đao súng đạn sát hại hàng triệu nhân mạng. Bộ Máy Nghiền của Đảng phát động bởi vô số công an do Hồ Chí Minh và Trần Quốc Hoàn đào luyện đã nghiến nát hết tự do, dân chủ, hạnh phúc và cả sanh mạng của người dân. Dân Tộc bị dìm sâu xuống cùng cực trong nô lệ. Đất Nước thành Nhà Tù Khổng Lồ cho đến nổi nếu cột đèn biết đi thì chúng cũng vượt biên. Con Đường Bác Đi, tức con đường Kách Mệnh chất đầy xương máu của Dân Tộc mà Nguyễn Tất Thành đã dẫm đạp lên để đi để trở thành Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh, thì thật quá Bi Đát cho Dân Tộc Việt Nam!
Xây Dựng Lại Đất Nước Để Đón Mùa Xuân Thăng Long Bất Diệt
Nhưng cùng tắc biến, biến tắc thông, Trời Đất xoay vần, hết cơn bỉ cực rồi sẽ đến hồi thới lai. Những cánh quạ đen rồi sẽ bay đi. Bầy én xuân sẽ rủ nhau về. Dân tộc sẽ bừng lên làm lại Cuộc Cách Mạng Đạo Nghĩa Pháp Trị. Truyền thuyết Một Mẹ Trăm Con, tinh hoa của Dân Tộc, sẽ như cơn mưa thương yêu thuần hòa thấm nhuần Đất Tổ. Như câu sấm ký đã truyền tụng Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về, Nguyễn Tất Thành ra đi khỏi nước với tên Ba, rồi trở thành Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy, Trần Dân Tiên, vân vân... rồi thành Hồ Chí Minh, sau cùng trở lại thành Nguyễn Tất Thành cha đẻ của Nguyễn Tất Trung. Phần sau của câu sấm ký Giặc đến Bồ Đề thì giặc sẽ tan rồi sẽ ứng nghiệm. Khi giặc tan rồi, Dân Tộc sẽ dời Lăng Bác về hang Pắc Bó, nơi có đồi Mác và suối Lê Nin, chỗ ngụ của Bác ngày xưa, để cho Vườn Hoa Ba Đình được thắm tươi và thanh khiết. Hướng về mảnh đất thiêng Nghìn Năm Văn Vật, cái nôi của nền Văn Hóa Việt Tộc, toàn dân sẽ bừng lên nỗi vui mừng đón Mùa Xuân Thăng Long huy hoàng rực rỡ.
Viết tại Sydney, Úc Đại Lợi
Mùa Quốc Hận 2007
Nhóm Tâm Việt Sydney
Wednesday, February 10, 2010
Chương 4 Cái Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh
Trong cuộc chiến tranh của Đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đánh Dân Tộc, cuộc chiến thường được gọi là cuộc tranh chấp Quốc Cộng, thì phe Quốc Gia Dân Tộc chịu thiệt thòi vô cùng phải ở thế hạ phong dẫn đến thất bại ngày 30 tháng 4 năm 1975. Một trong những nguyên nhân là vì trong hàng ngủ Quốc Gia Dân Tộc có quá nhiều kẻ ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản, những kẻ đâm sau lưng chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những kẻ nằm vùng theo những sách lược địch vận của Cộng Sản như: trí vận, tôn giáo vận, văn hóa vận, sinh viên vận, học sinh vận, phụ nữ vận, binh vận… nhiều vô số không thể nào kể hết, và sau ngày 30-4-1975 lại có thêm kiều vận nữa. Nào là Bà Ngô Bá Thành hợp cùng ni sư Huỳnh Liên với Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống xuống đường gây rối, nào là Phong Trào Phản Chiến với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với cứ chĩa mũi dùi về phía Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa trong khi Bộ Đội Cộng Sản hung hăng đòi tiêu diệt hết các nước Tư Bản Chủ Nghĩa để tiến tới Thế Giới Đại Đồng thì lại được nhạc sĩ binh vực! Lại còn thêm những trí thức ưu tú của miền Nam, tự nhận là Thành Phần Thứ Ba đứng trung lập, nhưng lại do Cộng Sản giật dây điều khiển .
Chuyện Giáo Sư Châu Tâm Luân
Có một trường hợp bây giờ thuật lại nghe giống như chuyện tiếu lâm. Đó là chuyện giáo sư tiến sĩ Châu Tâm Luân. Ông được học bổng đi Mỹ học và đậu bằng Tiến sĩ kinh tế nông nghiệp. Khi về nước, ông dạy ở các trường Nông Lâm Súc. Trên bục giảng Đại học trước các sinh viên, ông thường phê bình: “Chế độ Sài Gòn như một cái áo rách nát đến nổi không còn có thể vá, cách duy nhất là xé bỏ và may một chiếc áo mới”.
Rồi lời ước muốn của ông hóa thành sự thật. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 Sài Gòn thất thủ, Việt Cộng chiến thắng, giáo sư Luân được sống với Việt Cộng, nhưng ông lại không muốn cái áo mới màu đỏ của Việt Cộng nên bỏ trốn đi vượt biên! Có người hỏi tại sao ông không ở lại phục vụ mà lại vượt biên thì ông đáp: “Họ tàn ác lắm! Hở ra một chút là họ giết liền!” Ở miền Nam trước kia, có không biết bao nhiêu người như giáo sư Châu Tâm Luân, nhiều không thế nào kể xiết! Sau đây, xin mời bạn đọc chuyện văn sĩ nằm vùng Vũ Hạnh, một chuyện điển hình với đầy đủ chi tiết hơn.
Chuyện Ông Khai Trí Và Nhà Văn Vũ Hạnh
Vũ Hạnh là một cán bộ văn hóa vận của Việt Cộng nằm vùng ở Saigon thật lâu. Ông là một văn sĩ có tài. Tác phẩm Người Việt Cao Quý của ông xuất bản ở Saigon và được tái bản 3 lần sau đó. Có một giai thoại thật đẹp giữa văn sĩ Vũ Hạnh và nhà xuất bản Nguyễn Hùng Trương, chủ nhân của nhà sách Khai Trí. Câu chuyện xảy ra vào khoảng cuối thập niên 60. Chuyện kể khi văn sĩ Vũ Hạnh mang bản thảo của mình đến thương lượng với nhà xuất bản Nguyễn Hùng Trương thì hai bên ưng thuận với giá 100 ngàn đồng (theo thời giá, số tiền ấy có thể mua được 5 hoặc 6 cây vàng). Nhưng đến ngày thanh toán tiền bản quyền, nhà văn nhận bao thơ, mở ra đếm thì thấy đến 120 ngàn. Nhà văn ngạc nhiên, bèn hỏi nhà xuất bản có nhầm lẫn không. Ông Nguyễn Hùng Trương, mà ai cũng gọi là ông Khai Trí, điềm nhiên trả lời:
“Không, tôi không trả lộn đâu. Trước kia, chúng ta ưng với giá 100 ngàn vì tôi chưa đọc bản thảo. Nhưng sau khi đọc xong, tôi thấy giá trị của nó đến 120 ngàn, cho nên tôi phải trả đúng theo giá trị của nó”.
Thưa quý độc giả, lúc đó chúng ta đang ở vào một thời điểm của Đệ Nhị Cộng Hòa với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khoảng cuối thập niên 1960. Ông Nguyễn Hùng Trương, tức là ông Khai Trí, vui lòng và tự ý trả thêm cho văn sĩ Vũ Hạnh 20 ngàn đồng cho xứng đáng với giá trị của tác phẩm, điều quá bất ngờ cho tác giả Vũ Hạnh. Hai mươi ngàn đồng từ trên trời rơi xuống?! Không phải! Từ trái tim và khối óc của một nhà xuất bản thành công, trong một nền kinh tế thị trường thành công, và trong một chế độ dân chủ khá ổn định! Mối giao hảo giữa nhà văn và nhà xuất bản mà đẹp đến thế thì ít có nơi nào trên thế giới sánh bằng! Chúng ta đã có một nền kinh tế thị trường khá hoàn hảo và nhất là chúng ta đã có một nhà xuất bản tuyệt vời biết quý trọng các nhà văn và nền văn học nghệ thuật. Với nền kinh tế thị trường về sách báo đẹp như vậy, tuy chế độ dân chủ của Việt Nam Cộng Hoà ở phương Nam còn non trẻ, nhưng chế độ đã cung cấp cho văn nghệ sĩ khá đầy đủ tự do và phương tiện để họ xứng đáng là Văn Nghệ Sĩ Chân Chính phục vụ nghệ thuật chứ không phải là Văn Nô Bồi Bút nịnh bợ Đảng để ăn lương như xã hội miền Bắc của Hồ Chí Minh.
Nhạc Sĩ Xuân Tiên Đem Yêu Thương Về Cho Phương Bắc
Vào thời gian đó, sau hơn 10 năm định cư ở miền Nam, một triệu đồng bào miền Bắc di cư đã ổn định cuộc sống và vững vàng với sự nghiệp đã được tạo dựng lại. Tình nghĩa đồng bào đậm đà thắm thiết trên mảnh đất lành của phương Nam được nhạc sĩ Xuân Tiên cảm đề với lời ca tuyệt vời trong bản Khúc Hát Ân Tình, bài nhạc mà ai ai cũng gọi bằng tên rất thân thương là bài Tình Bắc Duyên Nam. Lời ca đẹp và hiền hòa như tấm lòng Người Mẹ Chung Của Trăm Con với tình yêu thương bao la chan hòa cho tất cả:
Người từ (là từ) phương Bắc đã qua dòng sông (sông) dài
Tìm đến phương này, một nhà thân ái
Ôi! Tình Bắc duyên Nam (là duyên) tình chung muôn đời ta đắp xây
Gặp nàng (nàng) là thôn nữ mắt duyên cười say
môi hồng tình ngát đôi lòng mộng vàng chung bóng
Ôi! Mạch đất dâng hương (là hương) cần lao chung đời vai sát vai
Cùng góp bàn tay thương yêu nhau rồi
Ngô khoai hai mùa ngát một niềm vui (chung vui)
Cho thơm hương đời lúa vàng tình ơi
Ngày mai hạnh phúc nơi nơi reo cười
Quê hương thôi đau sầu ngăn sông cách núi
Ta đem yêu thương về cho phương Bắc
Ôi! Đời sống yên vui (là vui) Dìu nhau đi vào chung bóng mơ.
Lời Phát Biểu Huênh Hoang Của Lê Duẩn
Nói chung, người dân miền Nam lúc đó có cuộc sống sung túc, có bát ăn bát để, và được hưởng một nền tự do dân chủ khá cao so sánh với các nước Đông Nam Á. Nhưng than ôi! Hạnh phúc không được hưởng trọn vẹn vì chiến cuộc đang leo thang gây đổ nát tang tóc khắp nơi nơi và khắp mọi nhà. Cuộc chiến trong khoảng thời gian đó, giới truyền thông Tây phương thường gọi là cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai, là một cuộc chiến tranh không cần thiết, do Đảng Cộng Sản gây ra để nuốt trọn miền Nam sau khi đã chiếm miền Bắc, một cuộc chiến tranh mà Tổng Bí Thư Lê Duẩn đã huênh hoang phát biểu (Trích Đêm Giữa Ban Ngày của tác giả Vũ Thư Hiên, trang 422):
“Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta!”
Dân Tộc hãy đọc thật kỹ lời phát biểu trên. Đúng là lời nói của kẻ đâm thuê giết mướn. Hiển nhiên là như vậy, vì đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, v. v… chứ nào có đánh cho Dân Tộc đâu? Rõ ràng Lê Duẩn đã nói thế kia mà! Trong một bài nói chuyện nội bộ, Lê Duẩn đã huênh hoang như vậy và Chế Lan Viên lấy hứng làm chủ đề cho bài thơ ca ngợi hòa bình: “Hỡi những con thỏ hòa bình. Đang tìm nơi gặm cỏ. Súng ta nổ cũng là vì ngươi đó...” Than ôi! Nhà thơ đòi nổ súng giết ai để bảo vệ hòa bình?!
Trong khi Lê Duẩn tự hào về việc đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và đánh cho Trung Quốc, thì Dương Thu Hương, người nữ đảng viên một thời đã hăng say trong chiến dịch Tiếng Hát Át Tiếng Bom bên cạnh các bộ đội tiền tuyến, đã Tỉnh Cơn Say Đảng và Tàn Giấc Mê Hồ, để ngộ rằng đó chỉ là cuộc bắn giết giữa anh em Nam Bắc một nhà. Người nữ sĩ, mắt đẫm lệ, ngồi ở lề đường của Sài Gòn vừa được mang tên mới là thành phố Hồ Chí Minh, đã ân hận nhận ra rằng “Cuộc Chiến Tranh Chống Mỹ Là Cuộc Chiến Tranh Ngu Xuẩn Nhất Trong Lịch Sử Dân Tộc”. Không ngu sao được nếu ta nhìn sang nước Phi Luật Tân láng giềng được độc lập ngày 4-7-1946. Đáng lý ra Phi Quốc phải được độc lập đúng một năm trước đó, tức là ngày 4-7-1945, theo tinh thần ước kết 10 năm trước giữa hai nước Mỹ và Phi.
Phi Quốc Được Độc Lập Đúng Ngay Ngày Quốc Khánh Của Hoa Kỳ
Nhắc lại lịch sử tranh thủ độc lập của Phi Luật Tân, trong quyển Giải Thể Chế Độ Cộng Sản, tác giả Luật sư Nguyễn Hữu Thống viết (trang 180):
“Đầu thập niên 1930, Luật Sư Quenzon, lãnh tụ Đảng Quốc Gia Phi Luật Tân đã tới Hoa Thịnh Đốn để vận động Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành quy chế tự trị và độc lập cho Phi Luật Tân. Năm 1934, Quốc Hội Hoa Kỳ biểu quyết thông qua Luật Tydings-McDuffie Act công nhận Phi Luật Tân là quốc gia tự trị (dominion) từ 1935. Trong đạo luật này có khoản quy định rằng, 10 năm sau, đúng ngày quốc khánh Hoa Kỳ (4 tháng 7 năm 1945), Phi Luật Tân sẽ được hoàn toàn độc lập.”
Tại sao Phi Quốc phải bị độc lập trễ một năm? Vì lẽ Phi còn bị quân đội Thiên Hoàng Phù Tang chiếm đóng cho nên Đại Tướng MacArthur phải điều động quân đội Mỹ đổ bộ lên đất Phi ở điểm Lingayen, một thành phố nhỏ phía Bắc Manila, để giải phóng toàn bộ nước Phi, và trong nội địa Phi, lực lượng Quốc Gia Phi còn phải thanh toán những ổ kháng cự lẻ tẻ của Nhật.
Và tại sao là ngày 4 tháng 7? Khi Hồ Chí Minh chôm chĩa lời hay ý đẹp trong bài Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ để viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập của mình - chỉ để lường gạt Dân Tộc Việt Nam - và tuyên đọc ở Quảng Trường Ba Đình ngày 2-9-1945, ông có biết rằng ngày 4 tháng 7 là ngày Quốc Khánh của Mỹ Quốc hay không? Hồ Chí Minh có biết rằng Mỹ Quốc trao trả Độc Lập cho Phi Quốc đúng vào ngày Quốc Khánh của mình vì một nghĩa cử cao đẹp muốn dân tộc Phi cũng được hạnh phúc mừng Độc Lập cùng một ngày với dân tộc Hoa Kỳ hay không? Hồ Chí Minh và Đảng có biết chăng Mỹ đã thực hiện một cuộc đổ bộ đầy đảm lược (mà cường độ về quân số tham chiến chỉ kém có cuộc đổ bộ ở miền Bắc nước Pháp) để đất nước Phi được hoàn toàn giải phóng trước khi trao trả lại cho dân tộc Phi? Nước Phi có diễm phúc như thế là vì Phi có Đảng Quốc Gia chứ không phải như Việt Nam có cái đảng ăn hại và dối trá mang đủ thứ tên như Đảng Cộng Sản Đông Dương, Hội Nghiên Cứu Mác Lê, Đảng Lao Động, có lúc lại giải tán đảng, rồi sau cùng khi chiếm đoạt hết cả nước mới tự nhận là Đảng Cộng Sản Việt Nam! Dân tộc Phi được may mắn là nhờ định hướng chính trị đúng của Luật sư Quenzon đã đến ngay Quốc Hội Hoa Kỳ để tranh thủ nền tự trị và độc lập cho nước mình. Trái lại, Dân Tộc Việt Nam thì quá bất hạnh vì Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian đó còn đang chăm lo học nghề làm Cộng Sản với Sư Phụ Stalin ở thủ đô Mạc Tư Khoa của Liên Xô!
Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản có biết chăng Phi nhận nền Độc Lập từ tay Mỹ mà không đổ một giọt máu, không tốn một nhân mạng? Nước Mỹ hành xử đẹp như thế đối với Phi thì Mỹ nào đâu có lòng tham, muốn xâm lăng chiếm cứ đất đai của ai, tại sao Hồ Chí Minh cứ tuyên truyền và phát động cuộc chiến tranh Chống Mỹ Cứu Nước sát hại và gây thương tật biết bao nhiêu triệu người cả Bắc lẫn Nam? Xử dụng đến cạn kiệt xương máu của dân tộc để dồn cho chiến trường miền Nam, riêng tỉnh Thanh Hóa đã động viên tới 450 ngàn bộ đội, nhiều xã không còn bóng dáng thanh niên. Lê Duẩn đã quyết tâm rằng nhân dân ta dù có mặc quần xà lỏn, đốt đuốc cũng đánh Mỹ tới cùng. Hồ Chí Minh trước khi chết cũng nhắn nhủ “các cháu của Bác” là dù có cháy cả dải Trường Sơn cũng phải chiến đấu đến cùng. Tội ác gây ra cuộc chiến tranh nầy, nếu không phải Hồ Chí Minh, thì ai chịu trách nhiệm?
Chuyện Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn
Trước khi viết về Trịnh Công Sơn, chúng ta nên biết qua về hai nhạc sĩ đàn anh tài hoa là Phạm Duy và Văn Cao. Nhạc sĩ Phạm Duy tham gia kháng chiến rất sớm, ngay từ những ngày tháng đầu tiên năm 1945. Ông đã tham gia kháng chiến ở Nam Bộ, ông đã có mặt ở Liên Khu 4 Thanh Nghệ Tĩnh, và có mặt ở chiến khu Việt Bắc. Ở khắp nơi ông đã trình diễn và sáng tác những bài ca nêu cao tinh thần kháng chiến chống Pháp. Đến khi ông sáng tác bài Bên Cầu Biên Giới thì Đảng không chấp nhận và ra lịnh cho ông phải khai tử bản nhạc. Quyền tự do sáng tác bị xâm phạm, một trong những lý do khiến nhạc sĩ Phạm Duy dinh tê và sau đó vào Nam (năm 1951). Thật may cho nhạc sĩ, nhưng may mắn cho Dân Tộc thì lớn lao vô cùng! Như cá gặp dòng nước trong bơi lội nhởn nhơ và hóa thành rồng, với thiên tài về nhạc, hồn nhạc trong ông bay lượn trong bầu không khí tự do của miền Nam, và với sức sáng tác phi thường, nhạc sĩ Phạm Duy đã cống hiến cho Dân Tộc cả Một Kho Tàng Âm Nhạc Vô Giá. Đến bây giờ là Mùa Bịt Miệng 2007, đọc lại chuyện xưa, mới thấy rằng nền Tự Do của VNCH ở Miền Nam vào thuở đó thật đáng quý!
Nhạc sĩ Văn Cao là tác giả bài Tiến Quân Ca mà Đảng Cộng Sản dùng làm Quốc Ca. Ông không dinh tê như nhạc sĩ Phạm Duy. Năm 1952, ông được Đảng cho đi Liên Xô tham quan như một chuyến hành hương về Đất Tổ để chiêm ngưỡng XHCN của nước Cộng Sản Liên Xô đàn anh. Chuyến đi làm ông thất vọng. Trở về Hà Nội, ông ngẩn ngơ như người mất hồn! Chợt đến phong trào đấu tranh Nhân Văn Giai Phẩm, ông bị khai trừ khỏi hội văn và hội vẽ. Ông chỉ còn ở trong hội nhạc nhờ là tác giả của bài Quốc Ca nhưng cũng chỉ làm vì.
Theo nhà phê bình văn học Nguyễn Mạnh Trinh trong bài Văn Cao, Thơ Của Những Giấc Mơ, ta đọc được dòng chữ u buồn: “Suốt mấy chục năm, Văn Cao phải lặng lẽ sống âm thầm sáng tạo trong đớn đau, trong cảnh túng quẩn. Dường như ông không viết bài hát nữa mà chuyển vào những tiểu phẩm nhạc không lời “Hàng Dừa Xa”, “Sông Tuyến”, “Biển Đêm”, ông dằn lòng viết những câu thơ không in, vẽ minh họa để kiếm chút “tiền còm” bởi thúc bách của đời sống thường nhật”.
Kết Luận: thiên tài của nhạc sĩ Văn Cao bị mai một trong Chế Độ XHCN của Hồ Chí Minh!
Chợt đến thập niên 60, ngôi sao âm nhạc Trịnh Công Sơn rực sáng! Nhạc Trịnh Công Sơn sáng tác đáp đúng thị hiếu của thanh thiếu niên, nên bài nhạc nào cũng được đón nhận nồng nhiệt, nhất là những bản phản đối chiến tranh thường được gọi là nhạc phản chiến. Nhạc sĩ được tự do sáng tác, không bị Chế Độ miền Nam bắt phải khai tử bản nhạc nào như trường hợp nhạc sĩ Phạm Duy phải khai tử bài Bên Cầu Biên Giới khi sống với Đảng! Cũng vào thời điểm đó, vào khoảng tháng 9 năm 1963, trong dịp đi nghỉ mát ở Quảng Châu, Hồ Chí Minh gặp Chu Ân Lai và Trần Nghị và phát biểu về quyết tâm chiến đấu ở miền Nam như sau:
“Đừng nói phải đánh 5 năm, 10 năm, dù có 20 năm, 30 năm, thậm chí 50 năm cũng phải đánh.”
Trích câu phát biểu đầy sắt máu của Hồ Chí Minh, người viết xin tri ân tác giả Minh Võ đã nghiên cứu Hồ Chí Minh, Biên Niên Tiểu Sử để tô vẽ thật rõ nét bộ mặt hiếu chiến hiếu sát của Hồ Chí Minh cùng sự dàn dựng bộ máy chiến tranh để tàn phá phần Đất Nước ở phương Nam. Vào lúc đó, hai nước Đức Quốc và Hàn Quốc cũng bị phân chia làm hai như Việt Nam. Nhưng chính quyền cộng sản lãnh đạo Đông Đức và Bắc Hàn không chủ trương đánh phá Tây Đức và Nam Hàn như Bắc Việt của Hồ Chí Minh đã làm! Do đó Tây Đức và Nam Hàn được thanh bình để chăm lo phát triển vùng đất của mình, và chẳng bao lâu sau, Tây Đức thành cường quốc kinh tế bậc nhất ở Âu Châu và Nam Hàn thành một trong 9 nước tân tiến đứng đầu về kỷ nghệ cơ khí. Còn Hồ Chí Minh đã làm gì? Ông đã đưa cả triệu thanh niên miền Bắc, kể cả những người ”lính cái” (chữ của Dương Thu Hương), phải Sanh Bắc Tử Nam gây ra cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn sát hại và gây thương tật hàng triệu người cả hai bên chiến tuyến!
Lãnh tụ Hồ Chí Minh là thủ phạm dàn dựng thật tỷ mỷ trọn vẹn bộ máy chiến tranh đánh chiếm Miền Nam với ý chí sắt đá “dù cho cuộc chiến dài 10 năm, 20 năm, 30 năm, thậm chí 50 năm cũng đánh”. Dàn dựng con cờ bù nhìn Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam chưa đủ, tên Đại Mưu Sĩ Hồ Chí Minh còn thiết lập thêm một chính đảng bù nhìn cho Mặt Trận là Đảng Nhân Dân Cách Mạng Miền Nam cho trọn bộ sậu. Đúng ra Hồ Chí Minh chỉ chẻ Đảng Cộng Sản ra làm hai, những đảng viên ở miền Nam, ông cho hóa trang và cho mặc áo Nhân Dân Cách Mạng Miền Nam, thế thôi. Bởi thế cho nên tất cả những hành động phản đối chiến tranh, tuyệt thực và xuống đường đòi hòa bình, viết bài phản chiến, đặt nhạc phản chiến mà không nhắm vào Thủ Phạm Hồ Chí Minh, không nghiêm khắc kết tội ông, thì có khác nào là đồng lõa với ông, giúp ông đoạt được chính nghĩa mà đáng lý ra ông không có!
Cùng một ý tương tự, tác giả Sắc Không, trong Nguyệt san Làng Văn trang 101, đã viết như sau: “Miền Nam, trước 1975, những loại thơ văn nhạc “phản chiến” chỉ phản chiến được với phía tự vệ, không phản chiến với phía gây chiến. Cộng quân vẫn tiến ào ào”.
Nhân đây xin nhắc lại lời tuyên bố của Trotsky trước Nghị Viện Amsterdam khoảng năm 1932 (Trích từ Lời Giới Thiệu của Vũ Huy Quang cho quyển Hồ Sơ Đệ Tứ Tập 3, của nhóm Đệ Tứ Việt Nam tại Pháp, xuất bản năm 2004, trang 15). Lời tuyên bố của Trotsky về phản chiến như sau: “Viết bài trên báo, đi biểu tình, tuyên dương hòa bình bằng lý sự luân lý để chống chiến tranh… mà không biết guồng máy phát động… chỉ là những tiếng be be của bầy cừu trước con dao đồ tể”.
Những chiến sĩ của Quân Lực VNCH đem xương máu ngăn chận Làn Sóng Đỏ để bảo vệ tự do, dân chủ, và nhân quyền cho miền đất đẹp ở phương Nam tất nhiên không mấy hài lòng về tính chất phản chiến của nhạc Trịnh Công Sơn! Tuy nhiên, nhạc của ông hay vô cùng!
Cần viết thêm rằng sau khi Đảng chiếm đoạt miền Nam, Đảng ra lịnh cấm không cho hát bài Gia Tài Của Mẹ của Trịnh Công Sơn, cùng với vô số bài nhạc khác của các nhạc sĩ miền Nam! Một hành động thật hạ cấp vô văn hóa và ngu xuẩn chỉ để cho Dân Tộc thương tiếc ngẩn ngơ khoảng thời gian vàng son khi không có Đảng! Khi Đảng ra đời, thì Dân Tộc mất tất cả!
Vung Mã Tấu Chặt Ngón Tay Em Học Sinh Nhỏ Nhất
Vào một ngày trong niên học 1961-1962, trong địa hạt tỉnh An Xuyên, “Việt Cộng đã chận các em học sinh đang đi đến trường, chọn một em nhỏ nhất trong nhóm rồi vung mã tấu chặt đứt một ngón tay của em và hăm dọa nếu còn tiếp tục đến trường thì các em sẽ chịu hình phạt như thế!” (Trích bài Liên Hoa của tác giả Phan Thịnh, Nguyệt san Làng Văn số 203 tháng 7-2000, trang 26).
Nhóm Việt Cộng đó muốn gì? Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam muốn gì? Lúc đó Hồ Chí Minh ở Bắc Bộ Phủ muốn gì? Tại sao lại lựa em bé nhỏ nhất để chặt ngón tay? Tại sao lại cấm học sinh đi học? Nếu thật tâm vì chính nghĩa cao đẹp Giải Phóng Miền Nam khỏi ách kềm kẹp của Mỹ Ngụy thì tại sao Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản lại xử dụng phương cách hèn hạ tàn nhẩn đối với trẻ thơ như vậy? Với những câu hỏi “Tại Sao?” dồn dập như trên, câu trả lời chỉ có thể là Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản đã chiếm đoạt được miền Bắc rồi, không lo xây dựng phát triển miền Bắc, mà chỉ lo tiếp tục gây chiến để cướp đoạt miền Nam cho kỳ được, không từ nan bất cứ hành động khủng bố đê hèn nào! Tác giả Phan Thịnh kể thêm rằng:
“Toàn tỉnh An Xuyên, số học sinh bị sút giảm 20.000 em, 150 trường học phải đóng cửa, khoảng hơn 60 giáo viên bị bắt cóc hoặc bị giết! Trong niên học đó, trên toàn lãnh thổ miền Nam đã có đến 630 trường học phải đóng của vì sách lược khủng bố này”.
Sách lược khủng bố giáo viên và học sinh kể trên gây những hậu quả thảm khốc như thế, đến nỗi Hiệp Hội Các Tổ Chức Sư Phạm Thế Giới (World Confederation of Organizations of the Teaching Profession) đã phải cử một phái đoàn đến miền Nam Việt Nam để điều tra. Bài viết của ký giả John B. Hubbell tường trình sự việc trên được đăng tải trên Reader’s Digest (số tháng 11-1968) và thành đề tài cho Phan Thịnh viết bài Liên Hoa nói trên.
Chặt Hai Bàn Tay Em Bé 7 Tuổi
Cũng từ bài viết đăng trên số Reader’s Digest đó của ký giả John B. Hubbell, bài được Trung Tướng TQLC Lewis Walt giới thiệu, chúng ta đọc thêm được tội ác kinh hoàng của Việt Cộng như sau (Bài do anh Thuận một độc giả ở Queensland gởi Diễn Đàn Độc Giả của Tuần Báo Saigon Times ngày 28-10-2004):
“Viên xã trưởng cùng với bà vợ như người điên cuồng, vì một trong các đứa con của họ, một bé trai mới 7 tuổi, đã bị mất tích từ bốn ngày rồi. Họ tìm đến Trung Tướng Lewis W. Walt để cầu cứu vì tin rằng đứa bé đã bị VC bắt cóc.”
“Rồi đột nhiên, thằng bé thoát ra khỏi rừng, chạy băng qua các đồng lúa để trở về làng. Thằng bé vừa chạy vừa khóc. Mẹ nó vội chạy ra, ôm nó vào lòng, và đau xót kinh hoàng khi thấy cả hai bàn tay đứa nhỏ bị chặt đứt và trên cổ nó có đeo một cái bảng, ghi những dòng chữ cảnh cáo cho cha nó.”
Thì ra VC muốn phá bỏ kỳ bầu cử sắp sửa diễn ra của VNCH nên mới cảnh cáo ông xã trưởng, hay bất kỳ người nào trong làng,cả gan đi bỏ phiếu, ông sẽ chịu những điều tệ hại hơn nữa cho những đứa con còn lại của ông ta.
Ném Lựu Đạn Vào Đêm Lửa Trại Học Sinh Qui Nhơn
Vào một đêm năm 1972, tại Sân Vận Động Qui Nhơn, trong khi học sinh và hướng đạo sinh trường Trung Học Cường Để đang vui vầy với lửa trại thì tên Việt Cộng nằm vùng là Vũ Hoàng Hà quăng lựu đạn vào đám lửa trại để tàn sát những học sinh và nhà giáo trong tay không một tấc sắt! Cuộc thảm sát gây 14 học sinh bị mất mạng và một số bị thương. Cô giáo sư Pháp văn Đặng Thị Bạch Yến, có giọng ca thật điêu luyện như ca sĩ chuyên nghiệp, đến để vui lửa trại với các em trại sinh, bị chết ngay tức khắc. Cô chết đi tuổi chỉ vừa 30, để lại ba đứa con 4 tuổi, 2 tuổi và 1 tuổi mồ côi mẹ. Chồng cô là Giáo sư Anh văn Tạ Quang Khánh bị thương nặng. Khi xe cứu thương đến, ông chân bước lên xe, tay ôm mớ ruột bị lòi ra ngoài, và thân mang đầy vết lựu đạn!
Một nhân chứng cho biết thủ phạm Vũ Hoàng Hà leo qua nấp ở chùa Long Khánh và được cơ sở nằm vùng của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đưa vào mật khu lẩn trốn. Sau khi chiến thắng miền Nam, Vũ Hoàng Hà được phong Chủ Tịch Ủy ban Nhân Dân tỉnh Bình Định kiêm Ủy viên Trung Ương Đảng. Mãi sau này, các báo Việt Cộng đổ vấy rằng vụ thảm sát đó là do nhóm Fulro của Đồng bào Thượng gây ra!
Ba đứa trẻ mồ côi mẹ năm 1972, thì chỉ 5 năm sau lại mang tang cha. Vết thương quá nặng, Giáo sư Tạ Quang Khánh không sống sót được 10 năm theo lời dự đoán của các Bác sĩ điều trị! Nhưng trời cao có mắt. Câu chuyện có hậu. Ba đứa trẻ mồ côi vì sự tàn ác của Việt Cộng năm nào thì bây giờ trở thành những công dân tốt phục vụ cho một xã hội đầy tình người đã giúp đỡ và cưu mang chúng. Tạ Quang Khôi và Tạ Quang Khiêm là kỹ sư điện (EE) và cô em út trong nhà là Tạ Thị Ngân Hà là bác sĩ nội khoa phục vụ tại bệnh viện Oklahoma. Câu chuyện do Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng tường thuật, ông là bạn học tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Huế đồng khóa với vợ chồng Giáo sư Tạ Quang Khánh (Theo nguồn tin: Vietnam Library Net).
Pháo Kích Vào Trường Tiểu Học Cai Lậy
Ngày 9-3-1973, một ngày đầy máu và nước mắt đến với trường Tiểu Học Cai Lậy, tỉnh Định Tường. Thủ phạm là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã dùng súng cối 82 ly bắn vào trường lúc học sinh đang sắp hàng vào lớp. Số thương vong theo Tướng Lâm Quang Thi trong quyển The Death of South Vietnam: An Autopsy (Xuất bản năm 1986) là 34 em chết và 70 bị thương, theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ: 32 tử vong và 55 bị thương.
Cuộc thảm sát ở Cai lậy gây thương cảm khắp nơi. Khắp miền Nam, lễ tưởng niệm và lạc quyên được tổ chức để an ủi và giúp đỡ gia đình bị nạn. Nhạc sĩ Anh Bằng viết bài nhạc khóc các em học sinh Cai Lậy có những câu như sau:
Hỡi Bé thơ ơi, sao tội tình gì Em lại bỏ đi, Em lại bỏ đi!
Kìa thầy giảng bài tình thương trong lớp
Bạn bè cùng ngồi chăm chỉ lắng nghe
Sao Em vội bỏ mái trường ngày xưa thân mến, vội bỏ ra đi.
Tội Ác Bỏ Đói Dân Để Lùa Thanh Niên Vào Bộ Đội
Câu chuyện giữa 2 người tù, một già một trẻ, do Ngục Sĩ Nguyễn Chí Thiện thuật lại trong quyển Hỏa Lò (trang 277). Người tù trẻ thuộc thế hệ thiếu nhi sống dưới chế độ hộ khẩu của Hồ Chí Minh. Quê anh ở Thái Bình, mang tiếng là vựa thóc, là “Quê hương năm tấn”, nhưng đói lắm. Bình quân, mỗi đầu người hàng tháng chỉ được 9 cân gạo, nên anh ta bị đói từ lúc còn bé. Đến 17 tuổi, anh phải khai man thành 18 để được vào bộ đội. Cuộc đối thoại như sau:
-- Thế mày trúng tuyển bộ đội ngay?
-- Vâng, được biết trúng tuyển, con mừng hơn mẹ con sống lại. Thế là hết cảnh đói mòn, đói mỏi. Mấy đứa gầy yếu quá bị loại, buồn như cha chết. Có đứa khóc.
-- Hồi đó, chúng mày có biết đi B, chết rất nhiều không?
-- Chúng con biết chứ. Trai làng bao đứa đã vong mạng. Hai thằng em họ con cũng đã chết ở Khe Sanh.
-- Chúng mày không sợ chết à?
-- Chẳng đứa nào sợ cả. Cái đói triền miên đáng sợ hơn nhiều. Bố bảo, đi bộ đội, chết chưa thấy đâu, đã thấy no trước mắt. Hai mốt cân gạo, một cân rưỡi thịt, một cân đường, mỗi tháng. Nghe trên thông báo tiêu chuẩn đó, chúng con thèm rỏ rớt, rỏ dãi. Cứ như là giấc mơ ấy. Chiến đấu dũng cảm được thăng chức lên sĩ quan. Tiêu chuẩn còn cao hơn nữa. Hơn đi thanh niên xung phong nhiều.
Thiên đường XHCN của Hồ Chí Minh rất cần được đối chiếu với đời sống công nhân trong các nước tư bản mà Cộng Sản luôn luôn mạt sát là bốc lột công nhân. Không cần đi đâu cho xa, bên nước láng giềng Campuchia, tác giả Nguyễn Văn Khậy trong quyển Kampuchia Trong Bối Cảnh Chiến Tranh Đông Dương đã diễn tả cảnh sống sung túc của công nhân đồn điền cao su Krek sau năm 1945, khi Đồng Minh thắng Nhật và người chủ Pháp bị Nhật giam trước đây được thả về để cai quản đồn điền. Tác giả Nguyễn Văn Khậy viết (trang 361 sđd):
“Từ đây cách đối xử với công nhân có chiều tiến bộ hơn so với những năm về trước. Đầu tiên, công nhân được giảm bớt 1/3 số cây cao su được cạo trong ngày, tăng lương, nhà thương có bác sỹ với thuốc men đầy đủ, chăm sóc kỹ lưỡng. Lương tiền phát đầy đủ hơn, nhất là đồn điền phụ trách bán các thứ vải, giày, xe đạp, vỏ xe đạp… thêm vào đó thực phẩm, thịt heo, thịt bò và vô số nhu yếu khác, bán chịu, bán thiếu cho công nhân được khấu trừ vào lương cuối tháng, giá rẻ hơn ngoài thị trường 30%. Đặc biệt cung cấp gạo hoàn toàn miễn phí cho công nhân kể cả gia đình theo tiêu chuẩn người lớn 800 gr, trẻ em dưới 12 tuổi là 600 gr.”
Đến đây, người viết có thắc mắc mới điện thoại hỏi tác giả Nguyễn Văn Khậy (hiện an cư lập nghiệp ở Sydney) nếu người công nhân có vợ và nhiều con thì sao, tác giả trả lời rằng: “Vợ và tất cả các con đều có tiêu chuẩn được phát gạo miễn phí, và thường thì công nhân dư gạo, mới đem số gạo dư ra ngoài đồn điền bán lại hoặc trao đổi lấy các món khác với người dân địa phương.”
Những Ngày Tháng Năm Đẹp Của Thế Kỷ
Lần giở lại những trang Hồi Ký của nhạc sĩ Phạm Duy, người đã vào Nam năm 1951, tức là 3 năm trước phong trào Di Cư, nhà soạn nhạc tài ba ấy khi di tản ra nước ngoài mới tỏ ý hối tiếc rằng đã không hề trước tác một bài nhạc nào để ca ngợi thành phố Sài Gòn, nơi ông sống những ngày phong phú nhất đời ông. Xin trích Hồi Ký Phạm Duy, Thời Phân Chia Quốc Cộng (trang 399):
“Hơn 20 năm sống ở Saigon mà tôi không có một tiếng hát nào cho thành phố nơi tôi sống những ngày phong phú nhất đời mình. Saigon không phải chỉ có con đường Duy Tân cây dài bóng mát để tôi đưa người tình đi học. Tuy cũng có Y Vân “Ghé Bến Saigon” để thấy Saigon đẹp lắm, Saigon ơi, Saigon ơi... Và có thêm Hoàng Anh Tuấn cùng với Phạm Đình Chương nhìn mưa Saigon để nhớ tới mưa Hà nội (bản “ Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội”)... nhưng nói chung, lũ nhạc sĩ chúng tôi rất vô ơn đối với Saigon.”
Thật vậy, thành phố Sài Gòn đáng được ca ngợi! Sài Gòn ngày xưa vừa đẹp lại hiền! Miền Nam trù phú và đầy tình người là mảnh đất lành đáng sống thật! Và nhạc sĩ Phạm Duy lại viết tiếp lời an ủi:
“Phải bỏ xứ ra đi, phải sống trong thành phố bị đổi tên, rồi mới hối hận để có khá nhiều nhạc sĩ lưu vong hay ở trong nước hối hả soạn ra sau ngày 30-4-75 những bài như “Saigon Ơi Vĩnh Biệt”, “Saigon Bây Giờ Buồn Không Em”, “Saigon Vĩnh Biệt Tình Ta”, “Saigon Niềm Nhớ Không Tên”, “Saigon Của Tôi”, “Saigon Ôi Thôi Đã Hết”… Con người là thế đó, có viên ngọc trong tay không biết giữ, mất rồi mới tiếc ngẩn tiếc ngơ!”
Và những ngày tháng năm từ khi Cựu Hoàng Bảo Đại về nước chấp chánh năm 1949 với danh vị Quốc Trưởng, qua Đệ Nhất Cộng Hòa với Tổng thống Ngô Đình Diệm, và Đệ Nhị Cộng Hòa với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cho đến ngày Quốc Hận 30-4-1975, trong khoảng thời gian đó, chúng ta đếm được Những Ngày Tháng Năm Đẹp Nhất Và Đáng Sống Nhất Của Thế Kỷ 20!
Chỉ riêng về môn túc cầu, những người ái mộ hẳn rất tự hào với thành tích của Đội Tuyển nhà trước 1975. Theo lời cựu tuyển thủ Nguyễn Văn Ngôn tức Ngôn 1 trả lời biên tập viên SS của tuần báo Sức Sống tại Little Saigon (Số Xuân Tân Mùi 1991):
“Nền túc cầu Việt Nam lớn mạnh nhứt vào năm 1964. Tôi còn nhớ, trong giải túc cầu thế giới Đội Tuyển VN đã hạ đội Do Thái 2-0 tại Tel Aviv ở vòng loại. Và đến năm 1968 tại Thái Lan, tranh giải khu vực để đại diện Á Châu tham dự Thế Vân Hội, Đội Tuyển VN đã hạ các nước Thái Lan, Đại Hàn, Mã Lai, Nam Dương. Rất tiếc, cũng năm đó vì tình trạng chiến tranh (Tết Mậu Thân) đã làm hỏng cơ hội tham dự Giải Thế Vận tại Iran của đoàn tuyển thủ VN (sau đó đội Đại Hàn đứng thứ nhì bảng thay thế). Một thành tích khác cũng lừng lẫy là đoàn cầu VN đã mang về chiếc cúp vô địch Á Châu tranh tại Mã Lai: Đó là giải Merdeka 1966”.
Việt Nam 50 Năm Trước Và 50 Năm Sau
Không phải như những báo cáo láo của Việt Cộng theo như nhận xét “3 chữ D: Dại Dốt Dối” của Giáo sư Phạm Thiều, bản Thống Kê về tình trạng kinh tế của Việt Nam 50 năm trước và 50 năm sau do học giả Đỗ Thông Minh ở Nhật sưu tầm (từ Economic Bulletin / Singapore ngày 14-4-2007 trang 738) đã trưng dẫn rất chính xác sự huy hoàng về kinh tế của miền đất phương Nam vào thời Đệ Nhất Cộng Hòa so sách với 35 năm sau dưới chế độ XHCN. Bản thống kê về Lợi Tức Đầu Người trong 50 năm qua như sau:
Năm 1956 Năm 2006
Nhật 215 đô 30.000 đô
Đài Loan 121 12.000
Mã Lai 246 4.520
Thái Lan 64 2.450
Indonesia 87 1.150
Nam Việt Nam 144 Việt Nam (cả nước) 550
Bản thống kê nói lên sự phát triển kinh tế quá chậm theo kiểu kinh tế thị trường với định hướng XHCN của Việt Nam. Năm 1956, Việt Nam Cộng hòa của miền Nam hơn nhiều nước. Đến năm 2006, dưới sự điều hành của Đảng, CHXHCN Việt Nam đứng hạng chót và thua xa các nước. Than ôi! Thành tích của những Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người!
Gần đây nhất, nhân ngày 30-4-2008, từ Paris, Bùi Tín viết bài Giải Phóng Ư? Độc Lập Ư? Bài viết ngắn, lời văn tâm tình thật cảm động, Bùi Tín đã thật sự bước vào cuộc Đại Đoàn Viên Của Dân Tộc và trong tình thương yêu bao la đó, ông thốt lên những lời kêu gọi chân tình:
“Tôi bỏ hết danh vọng hảo, chức tước phù du, huân chương mai mỉa, tự hổ thẹn từng cao ngạo vô duyên về chuyện vào Dinh Độc Lập sớm, xế trưa ngày 30-4, vớ vẩn lạc điệu cả, cá nhân lầm lạc, ngộ nhận hết.”
“Để làm gì cơ chứ? Để đất nước ra nông nổi này ư ? Độc lập, KHÔNG! Tự Do, KHÔNG! Chủ quyền, KHÔNG! Về mặt nào Việt Nam cũng đứng dưới 100 nước khác!”
“30 tháng 4 năm nay, tự thâm tâm, tôi chỉ có một lời kêu gọi với các bạn bè và đồng chí cũ của tôi, hãy quý trọng lòng yêu nước thương dân của chính mình. Bạn hãy tự phục hồi lòng yêu nước thương dân trọn vẹn của mình để cùng mọi người Việt Nam tỉnh táo và tử tế tranh đấu cho một Tổ Quốc Việt Nam thật sự độc lập, thật sự tự do, dựa vững vào Lịch Sử Dân Tộc và Thời Đại”.
Miền Nam Tiến Thật Xa Trên Lộ Trình Xây Dựng Dân Chủ
Vào cuối thập niên 60, với sự điều hợp của Giáo Sư Nguyễn Văn Bông cùng một số Dân Biểu Hạ Viện, Miền Nam đã thiết lập được Dự Thảo Quy Chế Đối Lập. Đây là cái mốc thật quan trọng trên lộ trình xây dựng dân chủ Miền Nam đã đạt được. Một Điểm Son rực rỡ đáng được ghi vào lịch sử Dân Tộc, nhất là vào lúc đó Miền Bắc tung hết sức mạnh quân sự và tuyên truyền để đánh chiếm Miền Nam cho kỳ được, không từ nan bất cứ một hành động khủng bố và tuyên truyền xảo quyệt nào. Xin mở ngoặc để viết đôi dòng về Giáo Sư Nguyễn Văn Bông. Ông sinh năm 1929 tại làng Kiểng Phước thuộc miền duyên hải của tỉnh Gò Công ngày xưa. Ông nội làm nghề thợ bạc, cha làm thợ sửa xe đạp. Ông nhà nghèo nhưng may mắn nhận được học bổng để học trường Phan Thanh Giản Cần Thơ. Rồi ông sang Pháp du học bằng vé tàu hạng chót nằm dưới boong tàu. Đến Pháp, ông vừa làm vừa học, lần lược đậu Tú Tài, Cử Nhân, và đến năm 1960 ông đậu Tiến Sĩ Luật khoa. Ba năm sau, Nguyễn Văn Bông tạo thành tích trong Lịch Sử Sinh Viên Du Học vang danh là Người Việt Nam Đầu Tiên Đậu Bằng Thạc Sĩ Công Pháp Quốc Tế. Ông được mời về nước dạy tại Đại học Luật khoa. Đến 1964, ông được cử vào chức Viện Trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Ông đã góp phần rất lớn trong việc đào tạo một thế hệ cán bộ hành chánh tài ba cho Đất Nước. Chế độ Miền Nam, với Dự Thảo Quy Chế Đối Lập, đã tiến thật xa trên lộ trình xây dựng dân chủ.
Giáo sư Nguyễn Văn Bông, người chiến sĩ tài ba xây dựng dân chủ cho Dân Tộc, đáng buồn thay, Đảng Cộng Sản lại xem là kẻ thù cần phải tiêu diệt! Chúng đã âm mưu sát hại Giáo sư 3 lần, đến lần thứ ba mới thành công! Ngày 10-11-1971, lúc 12 giờ trưa, Giáo sư bị Việt Cộng giết bằng chất nổ quăng vào dưới xe của ông khi ông đang trên đường từ Học Viện về nhà. Ngọn lửa thiêng Dân Tộc được thắp sáng từ thời Trưng Triệu xa xưa tạo thành Hồn Thiêng Sông Núi, từ nay với anh linh của Giáo Sư Nguyễn Văn Bông hòa nhập vào, xin hãy soi đường dẫn lối cho du sinh Việt Nam học thành tài về nước xây dựng nền dân chủ tiến bộ và tránh xa chế độ Cộng Sản độc tài sở trường dùng khủng bố giết người bịt miệng để cai trị. Đến bây giờ là Mùa Bịt Miệng 2007, Đảng Cộng Sản vẫn còn lúng ta lúng túng với chế độ độc tài đảng trị không chấp nhận đối lập, làm chủ tất cả các báo và đài để giết tự do ngôn luận, thành lập Giáo Hội Quốc Doanh để giết tự do tín ngưỡng, thành lập Nghiệp Đoàn Quốc Doanh đứng về phía Tư Bản nước ngoài để bốc lột công nhân Việt Nam… Bức Màn Sắt, Bức Màn Tre, Bức Tường Ô Nhục Bá Linh vang bóng một thời xa xưa thì nay đã bị dẹp bỏ và vất vào Sọt Rác Lịch Sử rồi. Nhưng Bắc Bộ Phủ của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đi ngược chiều lịch sử, lại thiết lập Bức Tường Lửa để ngăn chận thông tin điện tử từ thế giới bên ngoài, và buông thả công an đi khắp nơi để đàn áp Dân Tộc vô cùng thô bạo! Cứ mãi bịt mắt, bịt tai, bịt miệng Dân Tộc mà cứ tự đề cao là “Cách Mạng”!
Tình Người Của Miền Đất Phương Nam
Người cán bộ văn hoá vận Vũ Hạnh của Đảng Cộng Sản đã có phúc duyên được sống để nằm vùng trọn vẹn ở miền Nam trong những ngày tháng năm đẹp đó. Xin nhắc lại đôi dòng về Vũ Hạnh. Nhà văn sinh năm 1926 tại Thăng Bình, Đà Nẵng, theo Cộng Sản từ năm 1945, sau hiệp định Genève, ông được phân công nằm vùng ở miền Nam. Ông là tác giả nhiều tác phẩm nghiên cứu như Đọc Lại Truyện Kiều, Tìm Hiểu Văn Nghệ, truyện dài Chất Ngọc, Cú Đấm, vân vân... nhưng nổi tiếng nhất là quyển Người Việt Cao Quý ẩn dưới bút danh A. Pazzi. Nhiều lần bị chế độ Sài Gòn bắt bỏ tù vì chống lại bằng tác phẩm và hành động. Tuy vậy, Vũ Hạnh cũng được nhiều người giúp đỡ và bảo lãnh như các linh mục Chân Tín và Thanh Lãng. Cả đến văn thi sĩ Hà Thượng Nhân, tức là trung tá Phạm Xuân Ninh, lúc phụ trách ngành tâm lý chiến về các lãnh vực Chính Huấn, Phát Thanh và Báo Chí cũng vì tấm lòng thơ mà tế độ nhiều lần cho Vũ Hạnh. Trong quyển Quê Hương Bạn Hữu Tù Đầy của Trần Dạ Từ, chúng ta được biết thêm về Vũ Hạnh như sau: “Vũ Hạnh thời trước, viết phê bình văn nghệ cho báo Bách Khoa theo lối hiện thực xã hội kiểu Cộng Sản, rồi nằm trong tờ Điện Tín của nhóm Lý Quý Chung, chuyên viết những chuyện kháng chiến đường rừng. Báo Sống của anh Chu Tử có hồi chỉ đích danh Vũ Hạnh là Cộng sản nằm vùng.”
Vũ Hạnh Tác Giả “Bài Mặt Đối Mặt Với Nhân Dân”
Đến năm 1990, sau 15 năm dưới sự cai trị độc tài của Đảng Cộng Sản, nhà văn Vũ Hạnh có viết một bài rất đặc sắc nhan đề Mặt Đối Mặt Với Nhân Dân. Bài đó được dịch ra Pháp ngữ và đăng trên tờ Nouvelle de Moscow, một tờ báo khuynh hữu ở Mạc Tư Khoa. Một phần của bài đó là bản photocopy với chữ viết tay của Vũ Hạnh được đăng tải trong quyển Bút Ký Irina của Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ (Tập 1, trang 48). Xin mời quý bạn đọc:
“Một vài suy nghĩ về con người và xã hội Việt Nam hiện nay. Sau ngày giải phóng 15 năm, nhiều người Việt Nam đánh giá về Đảng lãnh đạo theo hai cách nhìn khác nhau: một là Đảng đã có công tập họp toàn dân chống những kẻ thù xâm lược vô cùng lớn mạnh để giành độc lập, thống nhất cho tổ quốc. Tuy nhiên, về mặt lãnh đạo đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng đã thất bại, làm cho đa số dân chúng nghèo đi, chịu nhiều bất công, phiền hà, đất nước thua kém các nước láng diềng từ xưa được xem là chậm tiến nhất vùng Đông Nam Á. Cách thứ hai có vẻ quyết liệt hơn nhiều khi khẳng định rằng không thể tách rời giai đoạn cứu nước với dựng nước, vì giai đoạn đầu là tiền đề cho giai đoạn sau . Sự hi sinh to lớn kéo dài suốt mấy mươi năm để chỉ đem lại nghèo đói, bất công thì hi sinh ấy có ý nghĩa gì? Bây giờ người ta bắt đầu hoài nghi chủ nghĩa xã hội, hoài nghi học thuyết Mác Lê...”
Bài viết phân tích rất sâu sắc và rành rẽ cuộc khủng hoảng không lối thoát ở Việt Nam và quyết liệt đòi hỏi chế độ phải thay đổi thực sự và toàn diện, trong đó có đoạn nói: “Vì sống bằng ngụy biện, người ta (tức là Đảng Cộng Sản) lại dùng ngụy biện để minh chứng rằng các biểu hiện xấu chỉ là hiện tượng chứ không phải là bản chất. Nhưng hiện tượng lập lại mãi cũng là bản chất. Hoặc bảo: đó là những sự suy thoái nhất thời, nhưng cái nhất thời ấy được đo bằng suốt chiều dài chế độ. Một cách giải thích khá quen thuộc khác là do kẻ thù đế quốc phá hoại, nhưng sao lại để kẻ thù phá hoại? Và sao chúng lại phá hoại dễ dàng như vậy?”
Theo dõi phong trào nhân dân các nước Đông Âu nổi lên bằng những cuộc biểu tình ôn hòa, xử dụng quyền Dân Tộc Tự Quyết và thực hiện cuộc Cách Mạng Nhung không đổ máu để xây dựng nền dân chủ và loại trừ chế độ Cộng Sản, nhà văn Vũ Hạnh đã theo quan điểm duy tâm mà cho rằng: “Đó là điều cần phải xảy ra, đó cũng là lẽ nhân quả ở đời”.
Và sau cùng trong đoạn kết nhà văn viết: “Câu trả lời thực sự cho V.N. không phải ở nơi Liên Xô, Trung Quốc, hay nước Đông Âu nào khác mà là ở tại V.N. Và chỉ khi nào những người lãnh đạo V.N. thấy rõ về xã hội mình và có can đảm sửa đổi những tệ trạng gây nên cho những con người V.N. bằng những phương thức hoàn toàn phù hợp với người V.N., thì chỉ lúc ấy quần chúng mới khỏi phải dùng đến sự thô bạo để giành lấy quyền định đoạt cho số phận mình.”
Vũ Hạnh Chối Bỏ Bài Viết Của Mình
Câu chuyện về nhà văn Vũ Hạnh bắt đầu bằng chuyến viếng thăm thành phố Saigon của Irina Zisman, một phụ nữ Nga có chồng là người Việt Nam. Bà học tiếng Việt ở Mạc Tư Khoa, nói tiếng Việt thật lưu loát và viết văn Việt thật điêu luyện như bất cứ một nhà văn Việt Nam tài ba nào. Trong tác phẩm Bút Ký Irina, bà kể lại rằng trong chuyến viếng thăm Sài Gòn vào cuối tháng 5 năm 1991 (xin chú ý: tác giả Irina viết là Sài Gòn chớ không viết Thành phố Hồ Chí Minh!), bà được mời đến Hội Nhà Văn và đã gặp Vũ Hạnh ở đấy. Bỏ ngoài chuyện được đãi trái măng cụt và bàn luận về truyện Kiều với Vũ Hạnh, khi ra về, bà có mời Vũ Hạnh lại chỗ bà ở để nói chuyện cho được tự nhiên, nhưng ông gạt đi: “Nếu như vậy, cấp trên sẽ hiểu nhầm.”
Trong một ghi chú của Irina, thì sự hiểu lầm bắt đầu từ một bài viết ký tên Vũ Hạnh đăng trên tờ báo Tin tức Mátxcơva (xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Pháp ở thủ đô Liên Xô). Điều đáng tiếc là chính Vũ Hạnh đã hiểu nhầm về cái tên Vũ Hạnh như thế! Về biến cố nầy, Irina viết tiếp: “Tôi nghĩ về các văn sĩ của thời đại chúng ta. Chúng ta, những người chỉ biết đọc lại các tác phẩm của những người xưa. Tôi nghĩ về tấn bi kịch của nhà văn luôn luôn giấu kín suy nghĩ của mình, về các nhà báo viết bài không phải để đăng báo. Về tấn bi kịch của các văn nghệ sĩ đã được cởi trói nhưng vẫn có cấp trên. Và về những cấp trên chuyên môn hiểu nhầm.”
Đó là lời bình rất phớt nhẹ của Irina về việc Vũ Hạnh chối bỏ bài viết của mình, lời phê bình phớt nhẹ đến nổi tưởng chừng như nó không chạm đến ai cả. Nhưng với Nguyễn Ngọc Bích thì không. Trong lời đề Bạt cho quyển Bút Ký Irina (Tập 1 trang 1600), ông tung ra lời phê rất sâu sát như sau. Xin mời quý bạn đọc kỹ:
“Một bài viết như vậy, nếu Vũ Hạnh có can đảm nhận lãnh trách nhiệm của mình -- như Chân Tín đã làm, như Nguyễn Ngọc Lan cũng có can đảm xác nhận -- thì ông đã chuộc được phần nào những phản phúc mà ông đã dành cho bạn bè ông khi Cộng Sản vào thành. Đằng này, ngờ đâu sau khi chị Irina đã cất công dịch sang tiếng Nga cho đăng báo Nga thì Vũ Hạnh ở nhà vội phủ nhận mình là tác giả bài báo. Để cho Hà Nội có thể ngụ ý là chị Irina đã bịa đặt ra bài báo, chứ làm gì có một bài báo như vậy. (Thành thử trong Bút Ký, chị đã phải cho in phóng ảnh cả tuồng chữ của Vũ Hạnh để anh khỏi chối được mãi). Thì ra, anh không hơn gì nhân vật mô tả trong Ly Thân của Trần Mạnh Hảo, chỉ giỏi nghề đón gió -- và khi thấy gió ngược chiều thì vội vã tháo bỏ hết cả nhân phẩm của mình để lộ nguyên hình là một thằng hèn.”
Chúng ta hẳn biết chỉ có một Vũ Hạnh mà thôi, nào đâu có Vũ Hạnh thứ hai là nhân vật do chị Irina tưởng tượng ra! Trong photocopy bức thơ của Vũ Hạnh gởi cho chị Irina còn có ghi cả địa chỉ của Vũ Hạnh ở Saigon kia mà, này nhé: 647 Điện Biên Phủ. Q3.Thành phố Hồ Chí Minh. Trước sau chỉ có một Vũ Hạnh đó mà thôi! Đó là Vũ Hạnh, đảng viên Việt Cộng nằm vùng ở Saigon trước ngày 30-4-1975. Đến khi Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam, đến ngày 3 tháng 4 năm 1976, công an Việt Cộng mở chiến dịch hốt gọn các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ tự do ở Việt Nam cho vào tù và nghe đâu danh sách các văn nghệ sĩ ấy là do Vũ Hạnh thiết lập. Trong hồi ký của Tạ Tỵ, quyển Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi, thì danh sách ấy do Vũ Hạnh cùng thiết lập với Sơn Nam.
Bàn về ngày bi thảm 3 tháng 4 năm 1976, ngày mà sau nầy chính thức trở thành Ngày Văn Nghệ Sĩ Việt Nam, nhà văn kiêm nhà báo Trần Dạ Từ viết: “Trong những trang đen tối nhất của lịch sử văn hoá nhân loại, kể cả thời vua Tần đốt sách chôn học trò ở phương Đông, Nê Rô đốt thành La Mã ở phương Tây, Mao Trạch Đông làm cách mạng văn hoá ở Hoa Lục, sự bách hại nhắm riêng vào giới cầm bút và nghệ sỹ, chưa bao giờ đạt tới mức qui mô như biến cố ngày 3 tháng Tư 1976 ở Việt Nam, cả về tính cách lẫn thời gian.”
Xin trở lại thời gian Vũ Hạnh nằm vùng dưới chính thể Việt Nam Cộng Hoà, khi được lảnh tiền nhuận bút 120 ngàn đồng (giá trị bằng 8 cây vàng) cho một quyển sách, với tiền thù lao xứng đáng như vậy, Vũ Hạnh như là người đang được ăn chiếc bánh thật mà trong lòng cứ chết mê chết mệt đeo đuổi theo chiếc bánh vẻ do Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản rêu rao từ năm 1945.
Chuyện Văn Nô Phục Vụ Lâm Tặc: Một Chỉ Vàng
Việt Nam Cộng Hoà đang trên đà phát triển theo cùng một nhịp với Đài Loan và Đại Hàn, thì bị bức tử vào ngày 30-4-1975. Ôi thôi rồi! Những Ngày Tháng Năm Đẹp của Thế Kỷ 20! Công lao tranh đấu ôn hòa của Cựu Hoàng Bảo Đại (sau là Quốc Trưởng) để tranh đoạt độc lập từ trong tay Pháp! Đến Đệ Nhất Cộng Hoà với Tổng thống Ngô Đình Diệm và Đệ Nhị Cộng Hoà với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Quân Dân Cán Chính miền Nam đã can trường chống trả bộ đội Việt Cộng ở ngoài chiến trường mà còn phải lo đón đỡ những đòn đánh lén của nhóm Việt cộng nằm vùng như Vũ Hạnh ở hậu phương! Rồi còn phải hứng chịu biết bao nhiêu điều thóa mạ trên mặt trận tuyên truyền vu khống của Việt Cộng, bị mang tiếng nào là Việt gian bán nước, bồi Tây, tay sai Mỹ Ngụy, Thiệu Kỳ ác ôn…
Những Ngày Tháng Năm đẹp của thế kỷ 20 đã sang trang nhưng đã đi vào Lịch Sử như một Điểm Son sáng chiếu để rồi bị thay thế bằng những trang sử đen tối nhất từ đấy cho đến đầu thiên niên kỷ thứ ba và kéo dài cho đến bao giờ! Trên những trang sử vô cùng đen tối ấy, thử xem ta có thể đọc được đôi ba dòng về cuộc sống của giới văn nghệ sĩ hay không? Đây, những dòng chữ ảm đạm tác giả Bùi Ngọc Tấn cố gắng và can đảm viết thật rõ nét cho chúng ta được đọc. Trong quyển Viết Về Bạn Bè, tác giả Bùi Ngọc Tấn thố lộ rằng vì chưa viết được về mình thì hãy viết về những bạn văn và những nhếch nhác trần ai của họ. Có ba người bạn văn của tác giả, Đình Kính và Chu Lai là hai nhà văn quân đội và Nguyễn Quang Thân là tác giả nhiều thiên tiểu thuyết một thời làm say mê độc giả ở quốc nội. Trong cảnh nhếch nhác trần ai ấy, ba nhà văn, vì muốn có tiền, chỉ còn cách dùng văn tài của mình để đi viết thuê, tức là làm văn nô, chứ không phải viết cho mình! Bùi Ngọc Tấn viết:
“Để có tiền, nói cách khác, để sống còn, thôi thì đành gác lại những trang sách vẫn nghiền ngẫm nung nấu, những tác phẩm sẽ được viết ra bằng tim gan mình. Hãy để lại sau. Để đến bao giờ chưa biết, nhưng trước mắt là kiếm sống. Đình Kính, Chu Lai, Nguyễn Quang Thân đã phải ép mình chấp nhận viết thuê cho viên giám đốc một lâm trường quốc doanh. Dĩ nhiên, họ không thể viết theo ý mình. Họ phải vận dụng ngôn từ, chữ nghĩa, kể cả những mánh lới mang tính lưu manh, để thỏa mãn ý muốn của người thuê viết, là biến Rừng Xưa Lá Úa trở thành Rừng Xưa Xanh Lá.”
“Rừng xưa lá úa. Nhưng những con người đến cùng rừng hôm nay đã thay lá cho rừng. Không phải đất trời, sự vận động của thời tiết, của bốn mùa đã làm nên điều ấy. Mà chính là con người. Con đường mới mở trong rừng đâu phải chỉ làm bằng máy móc. Trước hết, nó được làm bằng trí tuệ, bằng tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội của những người làm việc âm thầm không cần ai biết đến... Rừng thay lá. Rừng sống lại. Rừng lại hát khúc ca hùng tráng của rừng.”
“Những cây bút viết thuê nầy biết rằng họ phải bịa, cho dù phải cúi mặt vì xấu hổ với lương tâm. Nhưng biết làm gì khác hơn khi vợ con, bố mẹ và cả chính mình còn có một thứ nợ đời phải trả. Đó là nợ áo cơm. Bằng mọi giá họ phải đáp ứng đòi hỏi của người thuê là hoàn tất cuốn sách có tên Rừng Xưa Xanh Lá trong thời hạn hai tháng được nuôi ăn, và sau khi hoàn tất được trả công mỗi người đúng một chỉ vàng như đã quy định trong hợp đồng từ lúc khởi đầu.”
Dưới ngòi bút của Bùi Ngọc Tấn thì ba bạn văn của ông phải bẻ cong ngòi bút, không phải để làm bồi bút cho đảng Cộng Sản, mà còn tệ hơn nữa, là làm văn nô để viết thuê cho viên giám đốc lâm trường quốc doanh vốn là phường lâm tặc. Món tiền còm nhuận bút một chỉ vàng trả công cho mỗi một người bạn văn ấy chính là tiền tên thủ trưởng lâm tặc đã phá hoại tài nguyên của đất nước mà tư túi riêng cho mình.
Xin trở lại chuyện nhà văn Vũ Hạnh. Không cần phải chờ đến thiên niên kỷ thứ ba, để ông đọc tác phẩm Viết Về Bạn Bè của Bùi Ngọc Tấn, ông mới biết các nhà văn sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa nghèo khổ như thế nào. Theo bài Mặt Đối Mặt Với Nhân Dân của ông viết vào năm 1990, chỉ sau ngày giải phóng 15 năm, ông đã mở mắt để thấy rõ sự thất bại của Xã Hội Chủ Nghĩa và vì ông là văn sĩ với tâm hồn dễ dàng rung cảm, nên hẳn ông cũng rất thương xót cho số phận hẩm hiu của ba nhà văn xấu số kia phải sống đọa đầy trong kiếp văn nô. Tôi thiết nghĩ chắc có nhiều độc giả cũng muốn biết số phận của Vũ Hạnh như thế nào dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, có giống như số phận hẩm hiu khốn khổ của ba bạn văn của Bùi Ngọc Tấn hay không!? Thì có khác gì với những văn nghệ sĩ và trí thức Hà Nội đã bỏ thủ đô theo Hồ Chí Minh lên Việt Bắc kháng chiến chống Pháp: kháng chiến thắng lợi, trở về thủ đô Hà Nội để thấy Dân Tộc bị mất tự do dân chủ và nô lệ cho Liên Sô và Trung Quốc. Họ lại đứng lên tranh đấu bằng ngòi bút của mình trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Nhưng họ lại bị đàn áp khủng bố, tù đày, đói rách, khốn khổ đến mức: sự thật đã có những nhà văn viết đêm, không có một tách cà phê để uống! Đã có những thi sĩ không làm thế nào mua được dăm điếu thuốc lá trong cơn nghiện! Và đã có một kịch sĩ bán chiếc đồng hồ đeo tay của mình để bồi dưỡng viết cho xong cuốn sách, nhưng in ra không đủ tiền để chuộc chiếc đồng hồ! Còn Hữu Loan, trong căn nhà nhỏ trong đêm tối, chỉ mơ ước có một ngọn đèn dầu để thức mà viết!
Bây giờ, tôi xin trở lại đề tài Có một Vũ Hạnh hay có hai Vũ Hạnh? Chắc có nhiều bạn đọc cho rằng Vũ Hạnh thứ nhất đã viết bài phê bình đảng năm 1990 là Vũ Hạnh can đảm. Còn Vũ Hạnh thứ hai là Vũ Hạnh hèn nhát, không có cái đảm lược như Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan, nên đã chối rằng không có viết bài của mình. Đó là Vũ Hạnh hèn như nhân vật trong truyện Ly Thân của Trần Mạnh Hảo mà Nguyễn Ngọc Bích đã phê bình. Nhưng không phải vậy. Người viết xin phép không muốn dùng chữ “hèn” để phê bình Vũ Hạnh và cũng xin ông Nguyễn Ngọc Bích thứ lỗi vì đã không phê bình nhất trí với ông.
Ở Miền Bắc, Ai Cũng Mang Họ “SỢ”
“Tránh voi không xấu mặt nào” cổ nhân ta dạy thế. Trong một chế độ coi rẻ sinh mạng con người và không từ nan bất cứ thủ đoạn nào để tiêu diệt người đối lập, ai ai cũng phải áp dụng triết lý sống như Nguyễn Tuân: “Tao mà còn sống và viết được đến ngày hôm nay là nhờ tao BIẾT SỢ chúng mày ạ!”, cụ vừa nâng ly rượu vừa nói mà nước mắt chảy ròng ròng! Còn nhạc sĩ Văn Cao, trước khi lìa đời hai tuần lễ, mới dám nói với một phóng viên ngoại quốc:“Bây giờ tôi đã 73 tuổi, tôi không còn biết sợ gì nữa. Chẳng ai giết tôi được nữa.”
Nhà thơ Chế Lan Viên đã ăn Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh suốt đời. Nhưng đến cuối cuộc đời, bị ăn quá nhiều Bánh Vẽ nên phát ách, ông mới tuôn những dòng thơ phản ứng như sau:
Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn,
Cầm lên nhấm nháp
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Đêm vui!
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Ngay đến người hùng Điện Biên Phủ là đại tướng Võ Nguyên Giáp còn phải ép mình nhẫn nhục thay. Xin nhắc lại chuyện khủng bố do cánh Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chủ xướng: chỉ trong một đêm, họ sai công an bắt sạch sẽ mấy chục tướng tá trực thuộc bộ Tổng Tham Mưu thân cận của tướng Giáp đem về tra khảo tàn nhẫn bắt nhận tội nói xấu tổng bí thư, mặc dầu những ông sĩ quan nầy có đến ngót nghét 40 tuổi đảng. Vậy mà tướng Giáp không một lời phản đối để binh vực thuộc hạ của mình. Về vụ việc này, tác giả Bùi Tín có hỏi tướng Giáp sao không can thiệp để đòi công bằng cho những người làm dưới quyền ông bị bắt giam oan ức thiệt thòi hàng mấy chục năm (Trích quyển Hoa Xuyên Tuyết trang 143). Ông trả lời đại ý: có chứ, nhưng không thể làm gì nổi trong cái cơ chế kỳ lạ này, khi ngành tổ chức, ngành an ninh là chúa tể, lộng hành. Nếu không cẩn thận thì tất cả còn bị trù nặng nề và kéo dài hơn nữa, và bản thân ông cũng bị tai họa như chơi!
Một đoạn văn của Lạc Nam trong bài Diễn Tiến Hòa Bình (Bán Tuần Báo Việt Luận, ngày 5-4-2005): “Trong Bộ Chính Trị, người duy nhất biết đọc biết viết là Võ Nguyên Giáp bị kết tội “chống đảng”. Ông là người có uy tín trong quân đội và nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ. Chính Lê Đức Thọ và Lê Duẩn hỏi cung trực tiếp và buộc Võ Nguyên Giáp nhận tội “chống đảng”… Rồi sau đó, mỗi lần có tiếng chuông bấm ngoài cổng, thì cả gia đình Võ Nguyên Giáp đứng tim vì tưởng người ta lại đến bắt chở đi…”
Đốn ngả hết tay chân bộ hạ của tướng Giáp chưa đủ, phe cánh Lê Duẩn còn hạ nhục ông, bắt ông phải phụ trách việc hạn chế sinh đẻ thuộc công tác kế hoạch hoá gia đình. Vụ việc nầy làm cho ngoài dân gian có câu vè truyền tụng:
“Ngày xưa đại tướng cầm quân
Ngày nay đại tướng cầm quần chị em.”
Và một câu vè khác:
“Ngày xưa đả viện công đồn
Ngày nay đại tướng bịt l...chị em”
Vì thế có người viết bài rằng “Đại tướng đã thắng Pháp, nhưng thua Đảng”.
Có Một Vũ Hạnh Hay Có Hai Vũ Hạnh
Vì tình trạng đất nước mình như thế cho nên tôi không dùng chữ “hèn” với nhà văn Vũ Hạnh, nhất là thời điểm sau khi chế độ cộng sản ở các nước Đông Âu và Liên Sô sụp đổ, công an Cộng Sản càng ra sức đàn áp khủng bố tàn bạo độc ác hơn bao giờ hết.
Nhưng thưa quý bạn đọc, để trả lời câu hỏi Có mấy Vũ Hạnh, xin trả lời ngay là có hai Vũ Hạnh:
1-Vũ Hạnh thứ nhất là Vũ Hạnh nằm vùng được thưởng thức chiếc bánh thật để phá hoại Việt Nam Cộng Hòa (“nằm vùng” mà lại được ăn bánh thật!)
2-Vũ Hạnh thứ hai là Vũ Hạnh Quan Chức Đỏ được ăn cái bánh vẽ to tướng do Bác Hồ và Đảng Cộng Sản ưu ái đút cho trong chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Viết đến đây, tôi chợt nhớ lại chuyện Con Chó Và Miếng Thịt trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà ngày xưa, trước năm 1945, học sinh nào cũng có đọc. Nội dung chuyện nầy bàn về việc thả mồi bắt bóng y như câu chuyện bánh thật và bánh vẻ của Vũ Hạnh, cho nên tôi cũng xin sao chép lại để đọc chơi cho vui. Câu chuyện trong sách Giáo Khoa Thư ngày xưa nguyên văn như sau:
“ Một hôm, một con chó vào hàng cơm ngoạm trộm miếng thịt. Người nhà hàng trông thấy, vác gậy đuổi theo. Con chó đâm đầu chạy. Khi chạy đã xa, đến một cái cầu, con chó dừng lại để ăn. Nhìn xuống sông, thấy có một miếnng thịt to hơn miếng thịt đang ngậm trong miệng. Nó liền nhả ngay miếng thịt ấy ra, nhảy xuống sông định lấy miếng thịt ở dưới nước. Nhưng nào có lấy được! Chẳng qua chỉ là bóng miếng thịt nước chiếu lại mà thôi. Còn miếng thịt, dòng nước cuồn cuộn kéo đi, con chó hết sức đuổi theo cũng không sao lấy lại được nữa.
Ôi! con chó lấy trộm thịt là có tội, con chó nhả bỏ miếng thịt là khờ dại. Thả mồi bắt bóng, bóng bắt chẳng được, mồi kia không còn, chẳng là đáng tiếc lắm sao! Người ta ở đời chẳng nên đứng núi này, trông núi nọ, đã được voi, lại còn đòi tiên. Cái gì đã nắm chắc trong tay, ta chớ nên buông ra mà chực những cái hão huyền đâu đâu.”
Người dân ở nông thôn Việt Nam sống gần thiên nhiên cũng có nhận xét tương tự:
Con cá trong lờ dật dờ đôi mắt,
Con cá ở ngoài lúc lắc chun vô.
Bạn đọc thân mến ơi! Đó chỉ là chuyện chó và cá, mà sao lại giống y như chuyện Vũ Hạnh và chuyện Dân Tộc Việt Nam mình vô cùng!
Nhận Xét Của Bùi Tín Về Miền Nam
Sau ngày 30-4-1975, Bùi Tín sống ở Sài Gòn trong 4 năm liền. Cùng với nhiều người từ miền Bắc vào Nam sinh sống, Bùi Tín đã “khám phá” miền Nam, đúng như nó vốn có, chứ không như trước đó được Đảng tuyên truyền. Trong quyển Mây Mù Thế Kỷ, xuất bản ở Paris mùa Thu 1998, tác giả Bùi Tín viết (trang 28): “Chúng tôi dần dần thấy rằng, chế độ chính trị ở miền Nam có những cái dở, cái kém, nhưng dù sao nó cũng có điểm trội hơn miền Bắc, như có tự do kinh doanh, đặc biệt là có tự do báo chí, ngôn luận, có báo tư nhân, có tự do xuống đường, biểu tình, tuần hành, tán phát truyền đơn, có tự do tín ngưỡng… là những điều ở miền Bắc chưa từng có.”
Đó là những quyền căn bản người dân miền Nam đã được hưởng, và nhạc sĩ Phạm Duy còn được thêm “quyền tự do sáng tác” vì chính ở miền đất đẹp phương Nam đó, người Nhạc Sĩ họ Phạm tài ba của thế kỷ, cũng như tất cả các văn nghệ sĩ khác nhất là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tất cả đã “sống những ngày phong phú nhất đời mình” . Nhưng sau ngày 30-4-1975, Đảng đã lấy lại hết, không còn tự do nào cả, và phát cho Cái Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh!
Tâm Sự Ngậm Ngùi Của Cụ Vũ Đình Huỳnh
Trong quyển hồi ký Hỏa Lò, tác giả Nguyễn Chí Thiện có nói về một người làng Vân Đình, cùng quê với cụ nghè Dương Khuê, vào đảng năm 25 tuổi, là bộ đội đã tham dự chiến dịch Biên Giới và Điện Biên. Anh đã “giác ngộ” tương đối sớm, nhưng cũng quá muộn để làm lại cuộc đời. Sau Cải Cách Ruộng Đất, sau vụ Nhân Văn, anh biết mình đã lầm. Khi đất nước thống nhất, anh có dịp đi công tác vào Nam ngay và có nhận xét (trang 218 sđd):
“Qua vùng đồng bằng sông Cửu Long, tôi thấy tận mắt nông dân dùng cả gạo để nuôi lợn. Quá no đủ. Đầy tình người. Đặt chân tới thành phố Sài Gòn, tôi giật mình. Phồn thịnh quá! Hạnh phúc quá! Trẻ con thời ngoan ngoản, lễ phép. Hoá ra tuyên truyền toàn bố láo. Cả một cuộc sống như vậy mà không biết giữ lấy. Thực đáng tiếc, đáng trách”.
Trở ra Hà Nội, anh có dịp gặp lại cụ Vũ Đình Huỳnh. Cụ là người quen cũ vì trong thời kháng chiến, anh đã có gặp cụ vài lần. Đây là lời anh thuật trong lần tái ngộ nầy (trang 219 sđd):
“Một cụ già đạo mạo, trang trọng. Nét cương nghị, trung thực, hiện rõ trên vẻ mặt ưu tư, buồn buồn. Cụ ngậm ngùi nói với tôi: “Anh bạn ạ, Sài Gòn là thành phố bị chiếm đóng. Không phải là thành phố được giải phóng. Chỉ vài năm thôi, nó sẽ giống Hà Nội. Tôi cả đời đi làm cách mạng, hy sinh tất cả, chỉ mang trong lòng một nguyện ước: đất nước được độc lập, dân tộc được tự do, no ấm. Tôi đã không làm được điều đó. Thực đắc tội với đồng bào.”
Sài Gòn Năm 1979 Dưới Mắt Vũ Thư Hiên
Sau đây là vài câu chuyện phụ họa để tô thêm vài nét thê thảm cho Cái Bánh Vẽ Hồ Chí Minh. Trước hết là chuyện Sài Gòn Năm 1979 Dưới Mắt Vũ Thư Hiên. Bị giam cầm 9 năm không xét xử, được thả vào năm 1976, và đến tháng 12 năm 1979 thì tác giả Đêm Giữa Ban Ngày Vũ Thư Hiên vào được Sài Gòn. Vũ Thư Hiên thuật về chuyến đi và nhận xét về thành phố Sài Gòn như sau (trang 288 sđd):
“Đó là chuyến đi nhớ đời, rất vất vả từ việc xin cấp Thông hành thay cho Chứng minh nhân dân mà tôi chưa có, tới việc mua vé máy bay. Vào tới tận Chợ Bến Thành rồi tôi mới tin là mình không bị cản lại. Cuộc sống ở Sài Gòn khác xa cuộc sống ở miền Bắc, mặc dầu Sài Gòn 1979 đã không còn giống thời nó là “hòn ngọc minh châu trong Á Đông”. Chế độ tem phiếu đã được áp dụng.”
“Bữa cơm của dân chúng đã phải độn bo bo, chẳng khác gì ở Hà Nội. Nhưng Sài Gòn vẫn sầm uất, vẫn nhộn nhịp, vẫn cố gắng để có cuộc sống riêng, chứ không sống theo chỉ thị. Thành thử nếu gọi cảnh Sài Gòn 1979 là tiêu điều thì không biết gọi cảnh Hà Nội bằng gì cho đúng.”
Theo như câu vè mới phát sinh vào lúc đó “Người Nam nhận họ, Người Bắc nhận hàng”, tình bà con họ hàng thân thương kẻ Nam người Bắc đùm bộc lẫn nhau được nhà văn Vũ Thư Hiên phác họa bằng nét chấm phá: “Người Hà Nội tiếp tục vào Sài Gòn kìn kìn khuân ra tivi, tủ lạnh và trăm thứ bà dằn khác.” Nhưng chữ bà dằn anh Vũ Thư Hiên dùng, thì ở trong Nam chúng tôi quen miệng nói hằm bà lằng, và có người còn nói hằm bà lằng xắng cấu cho có vẻ giống đồng bào Người Việt Gốc Hoa.
Sài Gòn Năm 1977 Dưới Mắt Lương Thành Nĩ
Lương Thành Nĩ là người tỉnh Tây Ninh theo đạo Cao Đài, tác giả quyển Thực Trạng Của Cuộc Chiến Tranh Việt Nam xuất bản ở California, tháng 1-1995. Quyển sách dài 400 trang, được bố cục thành 82 “chương chuyện”, mỗi chương là một câu chuyện ngắn, gọn, đầy đủ ấn chứng, rất dễ đọc. Lương Thành Nĩ viết với tâm niệm cao cả rằng (Trích Lời Tựa, trang 3 sđd) “Mọi người chúng ta hãy làm một điều gì dù là nho nhỏ, hầu góp phần đừng để cho những kẻ gian trá, vốn đã lừa đảo được gần như mọi người trên khắp Thế Giới trong chiến tranh, không còn se tròn, bóp méo được nữa đối với sự thật và lịch sử…”
Ở chương IIL nhan đề Be Bờ Cộng Sản, thời điểm sau 1954, Lương Thành Nĩ nhắc lại câu nói của Hồ Chí Minh (trang 88 sđd): “Ngày nào miền Nam chưa được giải phóng, đồng bào miền Nam còn đói khổ, tôi ăn không ngon ngủ không yên”.
Ngon! Hồ Chí Minh ngon! Đúng là lời nói của kẻ tiểu nhân vô lại tự mình tôn vinh là “Cha Già Dân Tộc” rồi được cả “bầy đàn” văn nô tung hô! Hồ Chí Minh quá gian xảo đã láo khoác bóp méo lịch sử! Vào lúc đó miền Nam nào có đói khổ đâu, chính miền Bắc đang đói khổ mà “Bác” lại không lo. “Bác” chỉ cho dân “Ăn Bánh Vẽ” và lo đem quân vào đánh chiếm miền Nam cho kỳ được! Hãy xem màn kế tiếp của Vở Bi Hài Kịch Giải Phóng Miền Nam.
Rồi miền Nam được “giải phóng” ngày 30-4-1975. Lương Thành Nĩ viết tiếp: “Đến 1977 khi có lập loè cởi mở, phương tiện đi đứng đỡ eo hẹp, người từ Bắc ùa vào Nam làm kẻ hành khất ăn xin với mức độ không tưởng tượng nổi. Hầu như vào bất cứ một quán ăn hay giải khát nào dù nhỏ hay lớn ở tại Thành phố hay Thị xã, Thị trấn nào cũng có người đến than thở cầu mong giúp đỡ. Nhưng thực khách không phải xót dạ nếu những kẻ ăn xin kia là người có tuổi, già cả, có lẽ bởi quá xa xôi nên các cụ không còn sức khỏe để đi từ Bắc vào Nam làm hành khất. Mà thực khách chỉ phải xót dạ vì những chị phụ nữ còn trẻ trung, khoẻ mạnh tay bồng con và những anh thanh niên trai tráng, có những người trông thật là khôi ngô, tuấn tú nhưng quần áo thì dơ bẩn nhăn nheo, cử chỉ thẹn thùng, cặp mắt trắng bệt mở lờ đờ, nhìn thấy họ chẳng còn một chút tự tin nào!”
Về cái xã hội mà Hồ Chí Minh và Lê Duẩn xây dựng ở miền Bắc từ 1954 đến 1975, tác giả Lương Thành Nĩ, người dân Tây Ninh đã can đảm đứng lên nói thay Dân Tộc, và đặt câu hỏi về tương lai của Đất Nước: “Nhìn hình ảnh thanh niên của một xã hội chẳng còn niềm tin thì chắc ai cũng biết mức độ sung mãn của cái xã hội ấy như thế nào rồi phải không, thưa quí vị?!”
“Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình” Không Còn Nữa
“Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình” là một Ca khúc được sáng tác trong những ngày tháng đầu tiên của cuộc Nam Bộ Kháng Chiến. Nhạc sáng tác do anh Nguyễn Văn Thông, một nhạc sĩ vĩ cầm, biệt hiệu Lữ Sinh. Vào lúc đó, anh phụ trách dạy nhạc cho Trại Huấn Luyện Cán Bộ Thanh niên và Thiếu nhi tại địa điểm Cồn Lớn sát bờ biển Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Một buổi trưa trong trại, nhạc sĩ Lữ Sinh đưa bản nhạc anh vừa viết xong cho Xuân Tước và bảo: “Tao viết nhạc, mầy làm lời đi!”. Xuân Tước viết trong quyển Hồi Ký 60 Năm Cầm Bút (Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, trang 31):
“Thế là tôi ngồi xuống. Anh nâng cây vĩ cầm lên, kéo cho tôi nghe một lần. Thấy hay, tôi bảo anh đàn lại, rồi chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đã hoàn tất ca khúc “Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình”.
Xuân Vũ viết tiếp: “Lữ Sinh khoái quá. Ngay hôm sau, anh đem bài hát ra tập cho trại sinh.”
Lời ca của bản nhạc như sau:
Làm sao khắp chúng dân đều tự do,
Làm sao khắp muôn dân đầy cơm áo?
Làm sao khắp thiên hạ hưởng hòa bình?
…………………………………………….
Vùng lên quyết tranh phần sống,
Tự do, hạnh phúc kia rồi.
Hòa bình, no ấm chào đón ta!”
Thế vì sao “Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình” không còn nữa? Đến 45 năm sau, câu chuyện mới được tiếp nối do bức thư của Xuân Vũ gởi cho Xuân Tước. Nhắc lại chuyện xưa lúc ở Trại Huấn Luyện Cồn Lớn, Xuân Tước là người điều khiển trại còn Xuân Vũ là một trại sinh thiếu nhi 16 tuổi. Năm 1992, lúc hai người đều sống đời tỵ nạn trên đất Mỹ, Xuân Vũ chép nguyên cả bài “Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình” gởi cho thầy mình là Xuân Tước với lời chua thêm như sau:
“Đây là bài hát phổ biến nhất Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và đã được Hà Nội dùng liên tục hơn 10 năm, đặc biệt làm nhạc hiệu cho buổi phát thanh vào Nam, nhưng không hề nhắc đến tên tác giả. Tồi bại hơn nữa, khi chúng cướp được miền Nam thì không dám phát thanh vì sợ cái mà chúng đòi Sài Gòn phải có thì bây giờ chính người Sài Gòn lại đòi chúng phải có cho họ, tức là Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình.”
Câu Chuyện “Sao Chú Không Chờ?”
Trong một buổi trà dư tữu hậu ở Sydney, một anh bạn giáo chức đồng nghiệp thuật cho tôi chuyện Sao Chú Không Chờ? mà đã 30 năm qua rồi tôi vẫn còn nhớ. Anh là người miền Bắc di cư, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, và được dạy tại một trường trung học ở Sài Gòn. Anh đang an cư lạc nghiệp thì xảy ra cơn Quốc Nạn 30-4-1975. Cả miền Nam hốt hoảng tìm cách vượt biên. Anh bạn người Bắc di cư của tôi may mắn có một mối tổ chức vượt biên đáng tin cậy. Đồng thời, anh gặp lại một người anh họ là một cán bộ cao cấp từ Hà Nội chuyển vào. Biết anh sẽ cùng gia đình vượt biên, người anh họ mới khuyên: “Sao chú không chờ một thời gian để xem chúng tôi làm việc ra sao đã. Nếu sau này mà thấy chúng tôi không làm được việc thì chú hãy đi.” Lẽ tất nhiên người bạn di cư của tôi vẫn tâm niệm câu nói trứ danh của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Việt Cộng nói mà hãy nhìn kỹ những gì Việt Cộng làm”, cho nên anh không nghe lời khuyên của người anh họ.
Anh bạn nhà giáo vượt biên thành công. Sau một thời gian ổn định nơi đất khách quê người, thì bốn đứa con của anh đều tốt nghiệp đại học: ba đứa là bác sĩ y khoa và một là nha sĩ. Nhắc lại lời khuyên của người anh họ, anh bạn của tôi cười hóm hỉnh: “Anh ấy bảo mình hãy chờ xem, nếu thấy các ổng không làm được việc, thì đến chừng đó mình hãy đi! Anh nghĩ coi, có lạ không! Nếu các ổng không làm được việc, thì các ổng phải đi chứ! Tại sao tôi phải đi! Té ra các ổng nghĩ rằng các ổng sẽ cầm quyền mãi mãi. Thôi thì mình đi cho được việc!”
Xin Đừng Chôn Tôi Gần Việt Cộng!
Người bạn giáo chức của tôi dẫn cả gia đình đi vượt biên, theo cách nói thời thượng, họ không chấp nhận chế độ nên đã Bỏ Phiếu Bằng Chân. Và có một dạo, ai ai ở Việt Nam cũng nói “nếu cột đèn đi được, thì chúng cũng đi rồi”. Sau ngày Quốc Nạn 30 tháng 4 năm 1975, Dân Tộc đã nếm mùi Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh, nên mới tiếc nhớ Những Ngày Tháng Năm Đẹp Của Thế Kỷ, quãng thời gian kể từ lúc Cựu Hoàng Bảo Đại về nước chấp chánh, qua Đệ Nhất Cộng Hòa với tổng thống Ngô Đình Diệm, đến Đệ Nhị Cộng Hòa với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu! Thời vàng son đã qua như giấc mộng đẹp! Đến thời đen tối sống dưới ách Cộng Sản khiến cho ai ai cũng muốn Bỏ Phiếu Bằng Chân. Riêng về Điệp viên Phạm Xuân Ẩn, người đã đóng góp cho ngành tình báo Việt Cộng, qua đời năm 2002, ông không Bỏ Phiếu Bằng Chân, ông để lại lời trối: “Xin đừng chôn tôi gần Việt Cộng!”
Trong tác phẩm Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế Độ Ngô Đình Diệm của Vĩnh Phúc, xuất bản năm 1998, tác giả có thuật chuyện điệp viên Việt cộng Phạm Xuân Ẩn đã ra tay cứu giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến, cựu giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị tại Phủ Tổng Thống. Ông Ẩn biết được địa điểm rước tỵ nạn bằng trực thăng cuối cùng vào đêm 29-4-1975, mới hối hả lấy xe Renault 4 ngựa của mình chở bác sĩ Tuyến đến nơi vừa kịp lúc.
Trong lần tái bản năm 2006, tác giả Vĩnh Phúc viết thêm (trang 516 sđd): “Sau này, ông Ẩn sống trong tâm trạng u uất và chán nản. Hẳn ông rất hối hận đã chọn lầm đường, đã đem hết khả năng thời trẻ phục vụ cho một lý tưởng mà ông đặt lầm chỗ.”
Chuyện 3D Của Giáo sư Phạm Thiều
Giáo sư Phạm Thiều là một vị giáo sư khả kính, người gốc Hà Tĩnh, dạy chữ nho và toán tại trường Trung học Trương Vĩnh Ký. Ông tham gia kháng chiến với chức Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Sài Gòn, rút ra khu từ tháng 9-1945, tập kết ra Bắc, rồi trở về Nam sau 30-4-1975. Đến năm 1986, ông treo cổ tự tử. Ông để lại cho đời Lời Phê Bình 3D (ba chữ D) về chế độ do Hồ Chí Minh xây dựng như sau:
“DỐT mà lãnh đạo nên làm dại. DẠI mà muốn thành tích nên báo cáo DỐI.
DẠI, DỐT, DỐI đó là ba điều làm cho các nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ, làm cho nước ta đi từ sai lầm này đến sai lầm khác.”
Trong tác phẩm Những Ngày Qua, bác sĩ Trần Ngươn Phiêu ghi lại Lời Phê Bình 3D trứ danh nói trên và cho biết cảm tưởng về cái chết đau thương của Giáo sư Phạm Thiều như sau (trang 182 sđd):
“Không hiểu có phải vì ông đã chán ngán cái cảnh thoái hóa, tham nhũng của cán bộ Cộng Sản sau 1975 hay vì ông nhận thức được cái sai trái của đường lối chủ nghĩa Cộng Sản của Stalin khiến làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa ở Trung Âu, nên ông đã ân hận và treo cổ tự tử.”
Cái chết của Giáo sư Phạm Thiều đầy bí ẩn. Nhưng nếu cảm tưởng của Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu về sự tự tử của Giáo sư Phạm Thiều là đúng thì chúng ta có thể kết luận rằng: Giáo sư Phạm Thiều ân hận vì thấy Dân Tộc bị ăn cái Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh, Giáo sư không Bỏ Phiếu Bằng Chân, Giáo sư đành bỏ phiếu bằng mạng sống của mình!
Lời Phát Biểu Của Nguyễn Hữu Thọ
Giáo sư Phạm Thiều bỏ phiếu “không ăn cái Bánh Vẽ Của HCM” bằng chính mạng sống của mình năm 1986, thì 2 năm sau đó, trong kỳ đại hội của Mặt Trận Tổ Quốc họp ở Sài Gòn ngày 25-9-1988, nổi lên nhiều tiếng nói phản đối Đảng như “Chính sách kinh tế xã hội của Đảng và nhà nước không phù hợp với thực tiển tình hình đất nước, thậm chí có khi đi ngược lại nguyện vọng và lợi ích của quần chúng”, “Đảng thay dân làm chủ”, và “Không lấy dân làm trọng mà lấy Đảng làm trọng”,.v.v…
Cũng tại đại hội trên, Nguyễn Hữu Thọ, lúc đó đang là Phó Chủ Tịch Hội Đồng Nhà Nước, đã vô cùng thất vọng trước tình trạnh dân chủ hình thức, dân chủ bánh vẽ của chế độ mà ông đã nhiều năm góp công xây dựng. Ông phát biểu:
“Nhân dân ai cũng thích cái bánh thật chứ chẳng ai thích cái bánh vẽ… Khuyết điểm lớn của chúng ta là chưa có dân chủ thật sự… Người dân chưa thật sự chọn lựa được những người lãnh đạo theo sự tín nhiệm của họ”.
Sự Phản Tỉnh Của Jean Paul Sartre
Jean Paul Sartre, triết gia hàng đầu của Pháp, là người đã từng ủng hộ phong trào Cộng Sản Thế Giới rất nhiệt thành. Trong lúc phong trào Cộng Sản lên đến cực thịnh tưởng chừng như sắp chinh phục cả thế giới đến nơi, ông cho rằng những người Chống Cộng là chướng ngại vật ngăn cản bước tiến hóa của nhân loại nên mới gọi họ là “Loài Chó Má” (tiếng Pháp “Chien”). Nhưng rồi nhân loại bàng hoàng khi khối Đông Âu và Liên Xô sụp đổ tan tành như lâu đài xây trên cát, để lại những trang sử vô cùng đen tối trong Lịch Sử loài người. Đến lúc đó, nhà triết gia Cộng Sản Jean Paul Sartre xoay đúng 180 độ, lần nầy ông lại dùng “Loài Chó Má” để gọi những kẻ Thân Cộng (tiếng Pháp “procommunists”)!
Bây giờ Jean Paul Sartre gọi những người Thân Cộng là “Loài Chó Má”, chỉ “Thân” thôi mà đã là “Chó Má” rồi, chúng ta không biết ông phải dùng từ gì để gọi những người Cộng Sản chính hiệu, nhất là những tên Việt Cộng. Bây giờ, chúng ta có cần phải viết thêm hay không? Xin hãy để cho Dân Tộc trả lời! Riêng người viết chỉ xin gọi họ là những “Kẻ Sáng Đảng Mà Mù Tình Dân Tộc, tức là những Kẻ Hết Lòng Trung Với Đảng mà Vô Cùng Bất Hiếu Với Dân”.
Con Đường “Bác” Đi: Từ Kominternchik… Đến Autocolonialist
Xin trở lại đề tài Vũ Hạnh và Cái Bánh Vẽ. Điều bất hạnh cho Dân Tộc Việt Nam là Cái Bánh Vẽ của Hồ Chí Minh lại quá đẹp, đẹp hơn cái bánh thật ngàn triệu lần, và không phải chỉ có một mình Vũ Hạnh muốn ăn bánh vẽ của Bác mà thôi mà có cả triệu triệu người Việt Nam cũng muốn ăn theo. Ôi! Cái Bánh Vẽ của Bác! Nhưng điều đại bất hạnh là trong khi Dân Tộc đang thưởng thức chiếc bánh thật thì Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản gây ra cuộc chiến tranh đánh Dân Tộc dài 30 năm, gây năm, sáu triệu người chết và cả chục triệu người bị thương tật ở hai bên chiến tuyến chỉ để cướp lấy cái bánh thật rồi phát cho Dân Tộc Cái Bánh Vẽ Của Bác. Cái bánh thật chỉ để dành cho Đảng. Ôi! Cái Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh, Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa Của Thế Giới Đại Đồng!
Đến bây giờ thì cái Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh đã nát ruỗng cả rồi và đã trở thành huyền thoại đau thương! Không còn ai muốn ăn cái bánh ấy nữa. Dân Tộc cũng không còn Bỏ Phiếu Bằng Chân nữa. Nhưng vì Đảng đã dồn Dân Tộc vào chân tường cho nên Dân Tộc phải đương đầu với Đảng thôi, không còn phương cách nào khác. Trong Mùa Bịt Miệng 2007, việc Dân Tộc đương đầu với Đảng cũng giống như chuyện Lấy Trứng Chọi Đá, chuyện Châu Chấu Đá Xe, chuyện Đội Đá Vá Trời. Nhưng Dân Tộc bị bịt miệng thì mắt lại sáng suốt vô cùng để thấy rất rõ rằng Con Đường “Bác” Đi chỉ là Con Đường Bi Đát, bởi lẽ “Bác” đã đi theo Cuộc Cách Mạng Đã Bị Phản Bội. Trên Con Đường Bi Đát đó, Hồ Chí Minh đã khởi hành ở điểm Quốc Tế Ủy Kominternchik để cuối cùng dìu dắt Băng Đảng thành những tên Thực Dân Lô Canh hay Thực Dân Bản Địa Autocolonialists, như Jean Lacouture đã gọi.
Xin mở dấu ngoặc, Jean Lacouture là sử gia Pháp đã một thời hết lòng ủng hộ và ca ngợi Hồ Chí Minh, nhưng sau cùng ông cũng đành hạ bút viết rằng Kẻ Chiến Thắng đã xây dựng được Chế Độ Autocolonialisme, một từ mới do ông chế tác. Theo văn phong của ông, ta có thể hiểu đó là Chế Độ Thực Dân không phải do người Pháp cai trị như ngày xưa mà là Chế Độ Thực Dân Tự Quản hay “Lô Canh”. Có một vài nhà bình luận đã dùng chữ “Nội Xâm” để diễn tả ý tương tự như vậy. Theo một cách diễn tả rõ ràng hơn, ta có thể nói trong Cuộc Chiến Tranh Của Hồ Chí Minh Đánh Dân Tộc, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chiến thắng Dân Tộc và đã xâm chiếm Đất Nước làm Thuộc Địa của riêng mình, biến Dân Tộc thành Nô Lệ cho Đảng, và Đảng đã trở thành Thực Dân Lô Canh y hệt như Thực Dân Pháp ngày xưa!
Sử gia Pháp Jean Lacouture không còn ca ngợi Hồ Chí Minh như xưa nữa, cho nên khi ông chế tác danh từ mới Autocolonialisme, tức là Chế Độ Thực Dân Lô Canh, hẳn ông ngụ ý Chế Độ Thực Dân Lô Canh mà Hồ Chí Minh thiết lập cũng không khác gì Chế Độ Thực Dân Pháp thời Pháp Thuộc ngày xưa. Nhưng Dân Tộc Việt Nam thì biết không phải vậy. Chế độ Thực Dân Lô Canh, tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ Chí Minh, tức Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa của Lê Duẩn, khi so sánh với Chế Độ Pháp Thuộc ngày xưa thì ĐỘC ÁC, THAM TÀN, BẦN TIỆN, GIAN XẢO, MA GIÁO, QUỶ QUYỆT, KHÁT MÁU hơn gấp nghìn gấp triệu lần.
Đảng Phải Trả Tự Do Nhân Quyền Cho Người Sống, Trả Linh Quyền Cho Người Chết, Và Trả Đất Nước Cho Dân Tộc
Bởi lẽ đó, việc Dân Tộc đương đầu với Đảng trong Mùa Bịt Miệng 2007 tưởng rằng khó mà lại hóa thành dễ vô cùng. Dễ là vì trong hàng ngủ của Đảng Cộng Sản bây giờ, không còn những vị yêu nước thương dân như Cựu Tướng Trần Độ của thuở nào, mà chỉ còn toàn là những Quan Chức Đỏ Cộng Sản rất Sáng Đảng Mà Mù Tình Dân Tộc. Họ cũng tham ô, tàn bạo, khát máu như những Thái Thú Tàu Tô Định, Thoát Hoan, Trương Phụ, Tôn Sĩ Nghị, hay như những tên Pháp xâm lược Henri Rivière, Rigault De Genouilly. Dân Tộc chỉ cần trở về với truyền thống chống ngoại xâm thời Bắc thuộc dài một ngàn năm, hoặc lịch sử một trăm năm chống Giặc Pháp xâm lược là được việc. Truyền Thống Chống Giặc Ngoại Xâm, Sở Trường Của Dân Tộc.
Nhưng thực sự không dễ dàng, công cuộc Dân Tộc đương đầu với Đảng Cộng Sản để dành lấy “Nhân Quyền Cho Người Sống Và Linh Quyền Cho Người Chết” như lời của Hòa Thượng Thích Huyền Quang. Công cuộc Dân Tộc đứng lên để dành Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc và đòi lại Đất Nước cho mình thực sự không dễ dàng bởi lẽ Đảng đã quá ma giáo, quỷ quyệt, và khát máu sau hơn nửa thế kỷ kinh nghiệm độc tài đảng trị. Bây giờ Đảng đã có trong tay vô số công an, quá dư thừa để cho công an mặc thường phục giả làm dân phụ lực với công an mặc sắc phục. Đảng lại quá dư tiền để mướn bọn du đảng đầu trộm đuôi cướp tức là xã hội đen giả làm đầu gấu uy hiếp bằng võ lực những vị tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ, nếu cần thì giết người diệt khẩu, vì thế nên có thêm từ mới là xã hội đỏ. Đảng lại có ngón nghề Bắt Nguội, như vụ Thái Bình Khởi Nghĩa, Đảng chờ đợi cho sự việc tranh đấu lắng dịu và ra lịnh cho công an vào nhà ban đêm bắt những người lãnh đạo đem đi thủ tiêu. Đảng lại “theo thói phụ nữ đánh ghen” dùng ác-xít tạt vào nhà như vụ khủng bố người con gái ông Hoàng Minh Chính, Đảng xử dụng những cách giết người bịt miệng bằng những tai nạn giao thông theo chiêu thức “ném đá dấu tay”, hoặc bằng cách dùng độc dược trộn vào thức ăn cho các tù nhân. Đảng lại có sáng kiến chưa từng thấy trong bất cứ quốc gia dân chủ nào là muốn xoá án tích nên không dùng chứng từ án lịnh mà chỉ dùng khẩu lịnh cho công an trong việc đàn áp các nhà đấu tranh dân chủ dân quyền.
Khi Cựu tướng Trần Độ bị khai trừ ra khỏi đảng và viết Nhật Ký Rồng Rắn, khi cựu Đại tá Bùi Tín và cựu Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội Nguyễn Minh Cần trở thành những chiến sĩ kiệt xuất tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ cho Dân Tộc, khi nhà văn Vũ Thư Hiên để hết tâm trí hoàn thành quyển Đêm Giữa Ban Ngày để trao cho các thế hệ tương lai, khi nữ sĩ Dương Thu Hương khóc cho thành phố Sài Gòn vừa bị mất tên và viết bài “Là Để Ỉa Vào Mặt Kẻ Cầm Quyền” thì cái Đảng Cộng Sản do Hồ Chí Minh thành lập không còn là cái gì cả. Xin lập lại: Cái Đảng Cộng Sản Do Hồ Chí Minh Thành Lập Không Còn Là Cái Gì Cả!
Chủng Loại Homo Sovieticus Trên Đất Việt
Đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh thành lập và xây dựng, trong hơn gần một thế kỷ nay, đã thụt lùi xuống tới mức tàn ác gian xảo đê tiện hèn hạ tận cùng của Loài Người, loài Homo Sovieticus, một Giống Người Mới xuất hiện từ tháng 10 năm 1917 ở Nga. Xin ghi chú: từ “Homo Sovieticus” rất phổ biến vào thập niên 1980. Nguyên thủy, từ đó dùng để chỉ một chủng loại mới của loài người đột sinh dưới chế độ cai trị khắc nghiệt của Stalin. Chủng loại đó, tức là người dân Nga nghèo khổ, phải mánh mung, lương lẹo, gian trá mới sống còn trong môi trường chính trị của Stalin. Tác giả Aleksandr Zinoviev đã viết quyển Gomo Soveticus được dịch ra tiếng Anh năm 1985. Ở đây, người viết xin được dùng từ Homo Sovieticus trái ngược với ý nguyên thủy để chỉ những cán bộ, những công an, những cốt cán CCRĐ năm nào, tất cả là những Cây Người Hồ Chí Minh đã trồng trên đất Việt, sau khi đã đào tận gốc trốc tận rễ Trí Phú Địa Hào, thì biến thành những Quan Chức Đỏ, cai trị Đất Nước bằng Luật Rừng Xanh.
Loài Homo Sovieticus phát sinh từ đất Nga rồi lại bị diệt chủng ngay trên đất nước Nga. Nhưng than ôi! Chủng loại Homo Sovieticus ác độc đó do Hồ Chí Minh (hay Hồ Xít Mao) mang về vẫn còn tồn tại trên đất Việt thân yêu của chúng ta! Đó là những kẻ Sáng Đảng Mà Mù Tình Dân Tộc! Đó là những kẻ Hết Lòng Trung Với Đảng mà VÔ CÙNG BẤT HIẾU VỚI DÂN!
Viết tại Sydney, Úc Đại Lợi
Mùa Bịt Miệng 2007
Nhóm Tâm Việt Sydney
Chuyện Giáo Sư Châu Tâm Luân
Có một trường hợp bây giờ thuật lại nghe giống như chuyện tiếu lâm. Đó là chuyện giáo sư tiến sĩ Châu Tâm Luân. Ông được học bổng đi Mỹ học và đậu bằng Tiến sĩ kinh tế nông nghiệp. Khi về nước, ông dạy ở các trường Nông Lâm Súc. Trên bục giảng Đại học trước các sinh viên, ông thường phê bình: “Chế độ Sài Gòn như một cái áo rách nát đến nổi không còn có thể vá, cách duy nhất là xé bỏ và may một chiếc áo mới”.
Rồi lời ước muốn của ông hóa thành sự thật. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 Sài Gòn thất thủ, Việt Cộng chiến thắng, giáo sư Luân được sống với Việt Cộng, nhưng ông lại không muốn cái áo mới màu đỏ của Việt Cộng nên bỏ trốn đi vượt biên! Có người hỏi tại sao ông không ở lại phục vụ mà lại vượt biên thì ông đáp: “Họ tàn ác lắm! Hở ra một chút là họ giết liền!” Ở miền Nam trước kia, có không biết bao nhiêu người như giáo sư Châu Tâm Luân, nhiều không thế nào kể xiết! Sau đây, xin mời bạn đọc chuyện văn sĩ nằm vùng Vũ Hạnh, một chuyện điển hình với đầy đủ chi tiết hơn.
Chuyện Ông Khai Trí Và Nhà Văn Vũ Hạnh
Vũ Hạnh là một cán bộ văn hóa vận của Việt Cộng nằm vùng ở Saigon thật lâu. Ông là một văn sĩ có tài. Tác phẩm Người Việt Cao Quý của ông xuất bản ở Saigon và được tái bản 3 lần sau đó. Có một giai thoại thật đẹp giữa văn sĩ Vũ Hạnh và nhà xuất bản Nguyễn Hùng Trương, chủ nhân của nhà sách Khai Trí. Câu chuyện xảy ra vào khoảng cuối thập niên 60. Chuyện kể khi văn sĩ Vũ Hạnh mang bản thảo của mình đến thương lượng với nhà xuất bản Nguyễn Hùng Trương thì hai bên ưng thuận với giá 100 ngàn đồng (theo thời giá, số tiền ấy có thể mua được 5 hoặc 6 cây vàng). Nhưng đến ngày thanh toán tiền bản quyền, nhà văn nhận bao thơ, mở ra đếm thì thấy đến 120 ngàn. Nhà văn ngạc nhiên, bèn hỏi nhà xuất bản có nhầm lẫn không. Ông Nguyễn Hùng Trương, mà ai cũng gọi là ông Khai Trí, điềm nhiên trả lời:
“Không, tôi không trả lộn đâu. Trước kia, chúng ta ưng với giá 100 ngàn vì tôi chưa đọc bản thảo. Nhưng sau khi đọc xong, tôi thấy giá trị của nó đến 120 ngàn, cho nên tôi phải trả đúng theo giá trị của nó”.
Thưa quý độc giả, lúc đó chúng ta đang ở vào một thời điểm của Đệ Nhị Cộng Hòa với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khoảng cuối thập niên 1960. Ông Nguyễn Hùng Trương, tức là ông Khai Trí, vui lòng và tự ý trả thêm cho văn sĩ Vũ Hạnh 20 ngàn đồng cho xứng đáng với giá trị của tác phẩm, điều quá bất ngờ cho tác giả Vũ Hạnh. Hai mươi ngàn đồng từ trên trời rơi xuống?! Không phải! Từ trái tim và khối óc của một nhà xuất bản thành công, trong một nền kinh tế thị trường thành công, và trong một chế độ dân chủ khá ổn định! Mối giao hảo giữa nhà văn và nhà xuất bản mà đẹp đến thế thì ít có nơi nào trên thế giới sánh bằng! Chúng ta đã có một nền kinh tế thị trường khá hoàn hảo và nhất là chúng ta đã có một nhà xuất bản tuyệt vời biết quý trọng các nhà văn và nền văn học nghệ thuật. Với nền kinh tế thị trường về sách báo đẹp như vậy, tuy chế độ dân chủ của Việt Nam Cộng Hoà ở phương Nam còn non trẻ, nhưng chế độ đã cung cấp cho văn nghệ sĩ khá đầy đủ tự do và phương tiện để họ xứng đáng là Văn Nghệ Sĩ Chân Chính phục vụ nghệ thuật chứ không phải là Văn Nô Bồi Bút nịnh bợ Đảng để ăn lương như xã hội miền Bắc của Hồ Chí Minh.
Nhạc Sĩ Xuân Tiên Đem Yêu Thương Về Cho Phương Bắc
Vào thời gian đó, sau hơn 10 năm định cư ở miền Nam, một triệu đồng bào miền Bắc di cư đã ổn định cuộc sống và vững vàng với sự nghiệp đã được tạo dựng lại. Tình nghĩa đồng bào đậm đà thắm thiết trên mảnh đất lành của phương Nam được nhạc sĩ Xuân Tiên cảm đề với lời ca tuyệt vời trong bản Khúc Hát Ân Tình, bài nhạc mà ai ai cũng gọi bằng tên rất thân thương là bài Tình Bắc Duyên Nam. Lời ca đẹp và hiền hòa như tấm lòng Người Mẹ Chung Của Trăm Con với tình yêu thương bao la chan hòa cho tất cả:
Người từ (là từ) phương Bắc đã qua dòng sông (sông) dài
Tìm đến phương này, một nhà thân ái
Ôi! Tình Bắc duyên Nam (là duyên) tình chung muôn đời ta đắp xây
Gặp nàng (nàng) là thôn nữ mắt duyên cười say
môi hồng tình ngát đôi lòng mộng vàng chung bóng
Ôi! Mạch đất dâng hương (là hương) cần lao chung đời vai sát vai
Cùng góp bàn tay thương yêu nhau rồi
Ngô khoai hai mùa ngát một niềm vui (chung vui)
Cho thơm hương đời lúa vàng tình ơi
Ngày mai hạnh phúc nơi nơi reo cười
Quê hương thôi đau sầu ngăn sông cách núi
Ta đem yêu thương về cho phương Bắc
Ôi! Đời sống yên vui (là vui) Dìu nhau đi vào chung bóng mơ.
Lời Phát Biểu Huênh Hoang Của Lê Duẩn
Nói chung, người dân miền Nam lúc đó có cuộc sống sung túc, có bát ăn bát để, và được hưởng một nền tự do dân chủ khá cao so sánh với các nước Đông Nam Á. Nhưng than ôi! Hạnh phúc không được hưởng trọn vẹn vì chiến cuộc đang leo thang gây đổ nát tang tóc khắp nơi nơi và khắp mọi nhà. Cuộc chiến trong khoảng thời gian đó, giới truyền thông Tây phương thường gọi là cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai, là một cuộc chiến tranh không cần thiết, do Đảng Cộng Sản gây ra để nuốt trọn miền Nam sau khi đã chiếm miền Bắc, một cuộc chiến tranh mà Tổng Bí Thư Lê Duẩn đã huênh hoang phát biểu (Trích Đêm Giữa Ban Ngày của tác giả Vũ Thư Hiên, trang 422):
“Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta!”
Dân Tộc hãy đọc thật kỹ lời phát biểu trên. Đúng là lời nói của kẻ đâm thuê giết mướn. Hiển nhiên là như vậy, vì đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, v. v… chứ nào có đánh cho Dân Tộc đâu? Rõ ràng Lê Duẩn đã nói thế kia mà! Trong một bài nói chuyện nội bộ, Lê Duẩn đã huênh hoang như vậy và Chế Lan Viên lấy hứng làm chủ đề cho bài thơ ca ngợi hòa bình: “Hỡi những con thỏ hòa bình. Đang tìm nơi gặm cỏ. Súng ta nổ cũng là vì ngươi đó...” Than ôi! Nhà thơ đòi nổ súng giết ai để bảo vệ hòa bình?!
Trong khi Lê Duẩn tự hào về việc đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và đánh cho Trung Quốc, thì Dương Thu Hương, người nữ đảng viên một thời đã hăng say trong chiến dịch Tiếng Hát Át Tiếng Bom bên cạnh các bộ đội tiền tuyến, đã Tỉnh Cơn Say Đảng và Tàn Giấc Mê Hồ, để ngộ rằng đó chỉ là cuộc bắn giết giữa anh em Nam Bắc một nhà. Người nữ sĩ, mắt đẫm lệ, ngồi ở lề đường của Sài Gòn vừa được mang tên mới là thành phố Hồ Chí Minh, đã ân hận nhận ra rằng “Cuộc Chiến Tranh Chống Mỹ Là Cuộc Chiến Tranh Ngu Xuẩn Nhất Trong Lịch Sử Dân Tộc”. Không ngu sao được nếu ta nhìn sang nước Phi Luật Tân láng giềng được độc lập ngày 4-7-1946. Đáng lý ra Phi Quốc phải được độc lập đúng một năm trước đó, tức là ngày 4-7-1945, theo tinh thần ước kết 10 năm trước giữa hai nước Mỹ và Phi.
Phi Quốc Được Độc Lập Đúng Ngay Ngày Quốc Khánh Của Hoa Kỳ
Nhắc lại lịch sử tranh thủ độc lập của Phi Luật Tân, trong quyển Giải Thể Chế Độ Cộng Sản, tác giả Luật sư Nguyễn Hữu Thống viết (trang 180):
“Đầu thập niên 1930, Luật Sư Quenzon, lãnh tụ Đảng Quốc Gia Phi Luật Tân đã tới Hoa Thịnh Đốn để vận động Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành quy chế tự trị và độc lập cho Phi Luật Tân. Năm 1934, Quốc Hội Hoa Kỳ biểu quyết thông qua Luật Tydings-McDuffie Act công nhận Phi Luật Tân là quốc gia tự trị (dominion) từ 1935. Trong đạo luật này có khoản quy định rằng, 10 năm sau, đúng ngày quốc khánh Hoa Kỳ (4 tháng 7 năm 1945), Phi Luật Tân sẽ được hoàn toàn độc lập.”
Tại sao Phi Quốc phải bị độc lập trễ một năm? Vì lẽ Phi còn bị quân đội Thiên Hoàng Phù Tang chiếm đóng cho nên Đại Tướng MacArthur phải điều động quân đội Mỹ đổ bộ lên đất Phi ở điểm Lingayen, một thành phố nhỏ phía Bắc Manila, để giải phóng toàn bộ nước Phi, và trong nội địa Phi, lực lượng Quốc Gia Phi còn phải thanh toán những ổ kháng cự lẻ tẻ của Nhật.
Và tại sao là ngày 4 tháng 7? Khi Hồ Chí Minh chôm chĩa lời hay ý đẹp trong bài Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ để viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập của mình - chỉ để lường gạt Dân Tộc Việt Nam - và tuyên đọc ở Quảng Trường Ba Đình ngày 2-9-1945, ông có biết rằng ngày 4 tháng 7 là ngày Quốc Khánh của Mỹ Quốc hay không? Hồ Chí Minh có biết rằng Mỹ Quốc trao trả Độc Lập cho Phi Quốc đúng vào ngày Quốc Khánh của mình vì một nghĩa cử cao đẹp muốn dân tộc Phi cũng được hạnh phúc mừng Độc Lập cùng một ngày với dân tộc Hoa Kỳ hay không? Hồ Chí Minh và Đảng có biết chăng Mỹ đã thực hiện một cuộc đổ bộ đầy đảm lược (mà cường độ về quân số tham chiến chỉ kém có cuộc đổ bộ ở miền Bắc nước Pháp) để đất nước Phi được hoàn toàn giải phóng trước khi trao trả lại cho dân tộc Phi? Nước Phi có diễm phúc như thế là vì Phi có Đảng Quốc Gia chứ không phải như Việt Nam có cái đảng ăn hại và dối trá mang đủ thứ tên như Đảng Cộng Sản Đông Dương, Hội Nghiên Cứu Mác Lê, Đảng Lao Động, có lúc lại giải tán đảng, rồi sau cùng khi chiếm đoạt hết cả nước mới tự nhận là Đảng Cộng Sản Việt Nam! Dân tộc Phi được may mắn là nhờ định hướng chính trị đúng của Luật sư Quenzon đã đến ngay Quốc Hội Hoa Kỳ để tranh thủ nền tự trị và độc lập cho nước mình. Trái lại, Dân Tộc Việt Nam thì quá bất hạnh vì Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian đó còn đang chăm lo học nghề làm Cộng Sản với Sư Phụ Stalin ở thủ đô Mạc Tư Khoa của Liên Xô!
Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản có biết chăng Phi nhận nền Độc Lập từ tay Mỹ mà không đổ một giọt máu, không tốn một nhân mạng? Nước Mỹ hành xử đẹp như thế đối với Phi thì Mỹ nào đâu có lòng tham, muốn xâm lăng chiếm cứ đất đai của ai, tại sao Hồ Chí Minh cứ tuyên truyền và phát động cuộc chiến tranh Chống Mỹ Cứu Nước sát hại và gây thương tật biết bao nhiêu triệu người cả Bắc lẫn Nam? Xử dụng đến cạn kiệt xương máu của dân tộc để dồn cho chiến trường miền Nam, riêng tỉnh Thanh Hóa đã động viên tới 450 ngàn bộ đội, nhiều xã không còn bóng dáng thanh niên. Lê Duẩn đã quyết tâm rằng nhân dân ta dù có mặc quần xà lỏn, đốt đuốc cũng đánh Mỹ tới cùng. Hồ Chí Minh trước khi chết cũng nhắn nhủ “các cháu của Bác” là dù có cháy cả dải Trường Sơn cũng phải chiến đấu đến cùng. Tội ác gây ra cuộc chiến tranh nầy, nếu không phải Hồ Chí Minh, thì ai chịu trách nhiệm?
Chuyện Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn
Trước khi viết về Trịnh Công Sơn, chúng ta nên biết qua về hai nhạc sĩ đàn anh tài hoa là Phạm Duy và Văn Cao. Nhạc sĩ Phạm Duy tham gia kháng chiến rất sớm, ngay từ những ngày tháng đầu tiên năm 1945. Ông đã tham gia kháng chiến ở Nam Bộ, ông đã có mặt ở Liên Khu 4 Thanh Nghệ Tĩnh, và có mặt ở chiến khu Việt Bắc. Ở khắp nơi ông đã trình diễn và sáng tác những bài ca nêu cao tinh thần kháng chiến chống Pháp. Đến khi ông sáng tác bài Bên Cầu Biên Giới thì Đảng không chấp nhận và ra lịnh cho ông phải khai tử bản nhạc. Quyền tự do sáng tác bị xâm phạm, một trong những lý do khiến nhạc sĩ Phạm Duy dinh tê và sau đó vào Nam (năm 1951). Thật may cho nhạc sĩ, nhưng may mắn cho Dân Tộc thì lớn lao vô cùng! Như cá gặp dòng nước trong bơi lội nhởn nhơ và hóa thành rồng, với thiên tài về nhạc, hồn nhạc trong ông bay lượn trong bầu không khí tự do của miền Nam, và với sức sáng tác phi thường, nhạc sĩ Phạm Duy đã cống hiến cho Dân Tộc cả Một Kho Tàng Âm Nhạc Vô Giá. Đến bây giờ là Mùa Bịt Miệng 2007, đọc lại chuyện xưa, mới thấy rằng nền Tự Do của VNCH ở Miền Nam vào thuở đó thật đáng quý!
Nhạc sĩ Văn Cao là tác giả bài Tiến Quân Ca mà Đảng Cộng Sản dùng làm Quốc Ca. Ông không dinh tê như nhạc sĩ Phạm Duy. Năm 1952, ông được Đảng cho đi Liên Xô tham quan như một chuyến hành hương về Đất Tổ để chiêm ngưỡng XHCN của nước Cộng Sản Liên Xô đàn anh. Chuyến đi làm ông thất vọng. Trở về Hà Nội, ông ngẩn ngơ như người mất hồn! Chợt đến phong trào đấu tranh Nhân Văn Giai Phẩm, ông bị khai trừ khỏi hội văn và hội vẽ. Ông chỉ còn ở trong hội nhạc nhờ là tác giả của bài Quốc Ca nhưng cũng chỉ làm vì.
Theo nhà phê bình văn học Nguyễn Mạnh Trinh trong bài Văn Cao, Thơ Của Những Giấc Mơ, ta đọc được dòng chữ u buồn: “Suốt mấy chục năm, Văn Cao phải lặng lẽ sống âm thầm sáng tạo trong đớn đau, trong cảnh túng quẩn. Dường như ông không viết bài hát nữa mà chuyển vào những tiểu phẩm nhạc không lời “Hàng Dừa Xa”, “Sông Tuyến”, “Biển Đêm”, ông dằn lòng viết những câu thơ không in, vẽ minh họa để kiếm chút “tiền còm” bởi thúc bách của đời sống thường nhật”.
Kết Luận: thiên tài của nhạc sĩ Văn Cao bị mai một trong Chế Độ XHCN của Hồ Chí Minh!
Chợt đến thập niên 60, ngôi sao âm nhạc Trịnh Công Sơn rực sáng! Nhạc Trịnh Công Sơn sáng tác đáp đúng thị hiếu của thanh thiếu niên, nên bài nhạc nào cũng được đón nhận nồng nhiệt, nhất là những bản phản đối chiến tranh thường được gọi là nhạc phản chiến. Nhạc sĩ được tự do sáng tác, không bị Chế Độ miền Nam bắt phải khai tử bản nhạc nào như trường hợp nhạc sĩ Phạm Duy phải khai tử bài Bên Cầu Biên Giới khi sống với Đảng! Cũng vào thời điểm đó, vào khoảng tháng 9 năm 1963, trong dịp đi nghỉ mát ở Quảng Châu, Hồ Chí Minh gặp Chu Ân Lai và Trần Nghị và phát biểu về quyết tâm chiến đấu ở miền Nam như sau:
“Đừng nói phải đánh 5 năm, 10 năm, dù có 20 năm, 30 năm, thậm chí 50 năm cũng phải đánh.”
Trích câu phát biểu đầy sắt máu của Hồ Chí Minh, người viết xin tri ân tác giả Minh Võ đã nghiên cứu Hồ Chí Minh, Biên Niên Tiểu Sử để tô vẽ thật rõ nét bộ mặt hiếu chiến hiếu sát của Hồ Chí Minh cùng sự dàn dựng bộ máy chiến tranh để tàn phá phần Đất Nước ở phương Nam. Vào lúc đó, hai nước Đức Quốc và Hàn Quốc cũng bị phân chia làm hai như Việt Nam. Nhưng chính quyền cộng sản lãnh đạo Đông Đức và Bắc Hàn không chủ trương đánh phá Tây Đức và Nam Hàn như Bắc Việt của Hồ Chí Minh đã làm! Do đó Tây Đức và Nam Hàn được thanh bình để chăm lo phát triển vùng đất của mình, và chẳng bao lâu sau, Tây Đức thành cường quốc kinh tế bậc nhất ở Âu Châu và Nam Hàn thành một trong 9 nước tân tiến đứng đầu về kỷ nghệ cơ khí. Còn Hồ Chí Minh đã làm gì? Ông đã đưa cả triệu thanh niên miền Bắc, kể cả những người ”lính cái” (chữ của Dương Thu Hương), phải Sanh Bắc Tử Nam gây ra cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn sát hại và gây thương tật hàng triệu người cả hai bên chiến tuyến!
Lãnh tụ Hồ Chí Minh là thủ phạm dàn dựng thật tỷ mỷ trọn vẹn bộ máy chiến tranh đánh chiếm Miền Nam với ý chí sắt đá “dù cho cuộc chiến dài 10 năm, 20 năm, 30 năm, thậm chí 50 năm cũng đánh”. Dàn dựng con cờ bù nhìn Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam chưa đủ, tên Đại Mưu Sĩ Hồ Chí Minh còn thiết lập thêm một chính đảng bù nhìn cho Mặt Trận là Đảng Nhân Dân Cách Mạng Miền Nam cho trọn bộ sậu. Đúng ra Hồ Chí Minh chỉ chẻ Đảng Cộng Sản ra làm hai, những đảng viên ở miền Nam, ông cho hóa trang và cho mặc áo Nhân Dân Cách Mạng Miền Nam, thế thôi. Bởi thế cho nên tất cả những hành động phản đối chiến tranh, tuyệt thực và xuống đường đòi hòa bình, viết bài phản chiến, đặt nhạc phản chiến mà không nhắm vào Thủ Phạm Hồ Chí Minh, không nghiêm khắc kết tội ông, thì có khác nào là đồng lõa với ông, giúp ông đoạt được chính nghĩa mà đáng lý ra ông không có!
Cùng một ý tương tự, tác giả Sắc Không, trong Nguyệt san Làng Văn trang 101, đã viết như sau: “Miền Nam, trước 1975, những loại thơ văn nhạc “phản chiến” chỉ phản chiến được với phía tự vệ, không phản chiến với phía gây chiến. Cộng quân vẫn tiến ào ào”.
Nhân đây xin nhắc lại lời tuyên bố của Trotsky trước Nghị Viện Amsterdam khoảng năm 1932 (Trích từ Lời Giới Thiệu của Vũ Huy Quang cho quyển Hồ Sơ Đệ Tứ Tập 3, của nhóm Đệ Tứ Việt Nam tại Pháp, xuất bản năm 2004, trang 15). Lời tuyên bố của Trotsky về phản chiến như sau: “Viết bài trên báo, đi biểu tình, tuyên dương hòa bình bằng lý sự luân lý để chống chiến tranh… mà không biết guồng máy phát động… chỉ là những tiếng be be của bầy cừu trước con dao đồ tể”.
Những chiến sĩ của Quân Lực VNCH đem xương máu ngăn chận Làn Sóng Đỏ để bảo vệ tự do, dân chủ, và nhân quyền cho miền đất đẹp ở phương Nam tất nhiên không mấy hài lòng về tính chất phản chiến của nhạc Trịnh Công Sơn! Tuy nhiên, nhạc của ông hay vô cùng!
Cần viết thêm rằng sau khi Đảng chiếm đoạt miền Nam, Đảng ra lịnh cấm không cho hát bài Gia Tài Của Mẹ của Trịnh Công Sơn, cùng với vô số bài nhạc khác của các nhạc sĩ miền Nam! Một hành động thật hạ cấp vô văn hóa và ngu xuẩn chỉ để cho Dân Tộc thương tiếc ngẩn ngơ khoảng thời gian vàng son khi không có Đảng! Khi Đảng ra đời, thì Dân Tộc mất tất cả!
Vung Mã Tấu Chặt Ngón Tay Em Học Sinh Nhỏ Nhất
Vào một ngày trong niên học 1961-1962, trong địa hạt tỉnh An Xuyên, “Việt Cộng đã chận các em học sinh đang đi đến trường, chọn một em nhỏ nhất trong nhóm rồi vung mã tấu chặt đứt một ngón tay của em và hăm dọa nếu còn tiếp tục đến trường thì các em sẽ chịu hình phạt như thế!” (Trích bài Liên Hoa của tác giả Phan Thịnh, Nguyệt san Làng Văn số 203 tháng 7-2000, trang 26).
Nhóm Việt Cộng đó muốn gì? Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam muốn gì? Lúc đó Hồ Chí Minh ở Bắc Bộ Phủ muốn gì? Tại sao lại lựa em bé nhỏ nhất để chặt ngón tay? Tại sao lại cấm học sinh đi học? Nếu thật tâm vì chính nghĩa cao đẹp Giải Phóng Miền Nam khỏi ách kềm kẹp của Mỹ Ngụy thì tại sao Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản lại xử dụng phương cách hèn hạ tàn nhẩn đối với trẻ thơ như vậy? Với những câu hỏi “Tại Sao?” dồn dập như trên, câu trả lời chỉ có thể là Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản đã chiếm đoạt được miền Bắc rồi, không lo xây dựng phát triển miền Bắc, mà chỉ lo tiếp tục gây chiến để cướp đoạt miền Nam cho kỳ được, không từ nan bất cứ hành động khủng bố đê hèn nào! Tác giả Phan Thịnh kể thêm rằng:
“Toàn tỉnh An Xuyên, số học sinh bị sút giảm 20.000 em, 150 trường học phải đóng cửa, khoảng hơn 60 giáo viên bị bắt cóc hoặc bị giết! Trong niên học đó, trên toàn lãnh thổ miền Nam đã có đến 630 trường học phải đóng của vì sách lược khủng bố này”.
Sách lược khủng bố giáo viên và học sinh kể trên gây những hậu quả thảm khốc như thế, đến nỗi Hiệp Hội Các Tổ Chức Sư Phạm Thế Giới (World Confederation of Organizations of the Teaching Profession) đã phải cử một phái đoàn đến miền Nam Việt Nam để điều tra. Bài viết của ký giả John B. Hubbell tường trình sự việc trên được đăng tải trên Reader’s Digest (số tháng 11-1968) và thành đề tài cho Phan Thịnh viết bài Liên Hoa nói trên.
Chặt Hai Bàn Tay Em Bé 7 Tuổi
Cũng từ bài viết đăng trên số Reader’s Digest đó của ký giả John B. Hubbell, bài được Trung Tướng TQLC Lewis Walt giới thiệu, chúng ta đọc thêm được tội ác kinh hoàng của Việt Cộng như sau (Bài do anh Thuận một độc giả ở Queensland gởi Diễn Đàn Độc Giả của Tuần Báo Saigon Times ngày 28-10-2004):
“Viên xã trưởng cùng với bà vợ như người điên cuồng, vì một trong các đứa con của họ, một bé trai mới 7 tuổi, đã bị mất tích từ bốn ngày rồi. Họ tìm đến Trung Tướng Lewis W. Walt để cầu cứu vì tin rằng đứa bé đã bị VC bắt cóc.”
“Rồi đột nhiên, thằng bé thoát ra khỏi rừng, chạy băng qua các đồng lúa để trở về làng. Thằng bé vừa chạy vừa khóc. Mẹ nó vội chạy ra, ôm nó vào lòng, và đau xót kinh hoàng khi thấy cả hai bàn tay đứa nhỏ bị chặt đứt và trên cổ nó có đeo một cái bảng, ghi những dòng chữ cảnh cáo cho cha nó.”
Thì ra VC muốn phá bỏ kỳ bầu cử sắp sửa diễn ra của VNCH nên mới cảnh cáo ông xã trưởng, hay bất kỳ người nào trong làng,cả gan đi bỏ phiếu, ông sẽ chịu những điều tệ hại hơn nữa cho những đứa con còn lại của ông ta.
Ném Lựu Đạn Vào Đêm Lửa Trại Học Sinh Qui Nhơn
Vào một đêm năm 1972, tại Sân Vận Động Qui Nhơn, trong khi học sinh và hướng đạo sinh trường Trung Học Cường Để đang vui vầy với lửa trại thì tên Việt Cộng nằm vùng là Vũ Hoàng Hà quăng lựu đạn vào đám lửa trại để tàn sát những học sinh và nhà giáo trong tay không một tấc sắt! Cuộc thảm sát gây 14 học sinh bị mất mạng và một số bị thương. Cô giáo sư Pháp văn Đặng Thị Bạch Yến, có giọng ca thật điêu luyện như ca sĩ chuyên nghiệp, đến để vui lửa trại với các em trại sinh, bị chết ngay tức khắc. Cô chết đi tuổi chỉ vừa 30, để lại ba đứa con 4 tuổi, 2 tuổi và 1 tuổi mồ côi mẹ. Chồng cô là Giáo sư Anh văn Tạ Quang Khánh bị thương nặng. Khi xe cứu thương đến, ông chân bước lên xe, tay ôm mớ ruột bị lòi ra ngoài, và thân mang đầy vết lựu đạn!
Một nhân chứng cho biết thủ phạm Vũ Hoàng Hà leo qua nấp ở chùa Long Khánh và được cơ sở nằm vùng của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đưa vào mật khu lẩn trốn. Sau khi chiến thắng miền Nam, Vũ Hoàng Hà được phong Chủ Tịch Ủy ban Nhân Dân tỉnh Bình Định kiêm Ủy viên Trung Ương Đảng. Mãi sau này, các báo Việt Cộng đổ vấy rằng vụ thảm sát đó là do nhóm Fulro của Đồng bào Thượng gây ra!
Ba đứa trẻ mồ côi mẹ năm 1972, thì chỉ 5 năm sau lại mang tang cha. Vết thương quá nặng, Giáo sư Tạ Quang Khánh không sống sót được 10 năm theo lời dự đoán của các Bác sĩ điều trị! Nhưng trời cao có mắt. Câu chuyện có hậu. Ba đứa trẻ mồ côi vì sự tàn ác của Việt Cộng năm nào thì bây giờ trở thành những công dân tốt phục vụ cho một xã hội đầy tình người đã giúp đỡ và cưu mang chúng. Tạ Quang Khôi và Tạ Quang Khiêm là kỹ sư điện (EE) và cô em út trong nhà là Tạ Thị Ngân Hà là bác sĩ nội khoa phục vụ tại bệnh viện Oklahoma. Câu chuyện do Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng tường thuật, ông là bạn học tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Huế đồng khóa với vợ chồng Giáo sư Tạ Quang Khánh (Theo nguồn tin: Vietnam Library Net).
Pháo Kích Vào Trường Tiểu Học Cai Lậy
Ngày 9-3-1973, một ngày đầy máu và nước mắt đến với trường Tiểu Học Cai Lậy, tỉnh Định Tường. Thủ phạm là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã dùng súng cối 82 ly bắn vào trường lúc học sinh đang sắp hàng vào lớp. Số thương vong theo Tướng Lâm Quang Thi trong quyển The Death of South Vietnam: An Autopsy (Xuất bản năm 1986) là 34 em chết và 70 bị thương, theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ: 32 tử vong và 55 bị thương.
Cuộc thảm sát ở Cai lậy gây thương cảm khắp nơi. Khắp miền Nam, lễ tưởng niệm và lạc quyên được tổ chức để an ủi và giúp đỡ gia đình bị nạn. Nhạc sĩ Anh Bằng viết bài nhạc khóc các em học sinh Cai Lậy có những câu như sau:
Hỡi Bé thơ ơi, sao tội tình gì Em lại bỏ đi, Em lại bỏ đi!
Kìa thầy giảng bài tình thương trong lớp
Bạn bè cùng ngồi chăm chỉ lắng nghe
Sao Em vội bỏ mái trường ngày xưa thân mến, vội bỏ ra đi.
Tội Ác Bỏ Đói Dân Để Lùa Thanh Niên Vào Bộ Đội
Câu chuyện giữa 2 người tù, một già một trẻ, do Ngục Sĩ Nguyễn Chí Thiện thuật lại trong quyển Hỏa Lò (trang 277). Người tù trẻ thuộc thế hệ thiếu nhi sống dưới chế độ hộ khẩu của Hồ Chí Minh. Quê anh ở Thái Bình, mang tiếng là vựa thóc, là “Quê hương năm tấn”, nhưng đói lắm. Bình quân, mỗi đầu người hàng tháng chỉ được 9 cân gạo, nên anh ta bị đói từ lúc còn bé. Đến 17 tuổi, anh phải khai man thành 18 để được vào bộ đội. Cuộc đối thoại như sau:
-- Thế mày trúng tuyển bộ đội ngay?
-- Vâng, được biết trúng tuyển, con mừng hơn mẹ con sống lại. Thế là hết cảnh đói mòn, đói mỏi. Mấy đứa gầy yếu quá bị loại, buồn như cha chết. Có đứa khóc.
-- Hồi đó, chúng mày có biết đi B, chết rất nhiều không?
-- Chúng con biết chứ. Trai làng bao đứa đã vong mạng. Hai thằng em họ con cũng đã chết ở Khe Sanh.
-- Chúng mày không sợ chết à?
-- Chẳng đứa nào sợ cả. Cái đói triền miên đáng sợ hơn nhiều. Bố bảo, đi bộ đội, chết chưa thấy đâu, đã thấy no trước mắt. Hai mốt cân gạo, một cân rưỡi thịt, một cân đường, mỗi tháng. Nghe trên thông báo tiêu chuẩn đó, chúng con thèm rỏ rớt, rỏ dãi. Cứ như là giấc mơ ấy. Chiến đấu dũng cảm được thăng chức lên sĩ quan. Tiêu chuẩn còn cao hơn nữa. Hơn đi thanh niên xung phong nhiều.
Thiên đường XHCN của Hồ Chí Minh rất cần được đối chiếu với đời sống công nhân trong các nước tư bản mà Cộng Sản luôn luôn mạt sát là bốc lột công nhân. Không cần đi đâu cho xa, bên nước láng giềng Campuchia, tác giả Nguyễn Văn Khậy trong quyển Kampuchia Trong Bối Cảnh Chiến Tranh Đông Dương đã diễn tả cảnh sống sung túc của công nhân đồn điền cao su Krek sau năm 1945, khi Đồng Minh thắng Nhật và người chủ Pháp bị Nhật giam trước đây được thả về để cai quản đồn điền. Tác giả Nguyễn Văn Khậy viết (trang 361 sđd):
“Từ đây cách đối xử với công nhân có chiều tiến bộ hơn so với những năm về trước. Đầu tiên, công nhân được giảm bớt 1/3 số cây cao su được cạo trong ngày, tăng lương, nhà thương có bác sỹ với thuốc men đầy đủ, chăm sóc kỹ lưỡng. Lương tiền phát đầy đủ hơn, nhất là đồn điền phụ trách bán các thứ vải, giày, xe đạp, vỏ xe đạp… thêm vào đó thực phẩm, thịt heo, thịt bò và vô số nhu yếu khác, bán chịu, bán thiếu cho công nhân được khấu trừ vào lương cuối tháng, giá rẻ hơn ngoài thị trường 30%. Đặc biệt cung cấp gạo hoàn toàn miễn phí cho công nhân kể cả gia đình theo tiêu chuẩn người lớn 800 gr, trẻ em dưới 12 tuổi là 600 gr.”
Đến đây, người viết có thắc mắc mới điện thoại hỏi tác giả Nguyễn Văn Khậy (hiện an cư lập nghiệp ở Sydney) nếu người công nhân có vợ và nhiều con thì sao, tác giả trả lời rằng: “Vợ và tất cả các con đều có tiêu chuẩn được phát gạo miễn phí, và thường thì công nhân dư gạo, mới đem số gạo dư ra ngoài đồn điền bán lại hoặc trao đổi lấy các món khác với người dân địa phương.”
Những Ngày Tháng Năm Đẹp Của Thế Kỷ
Lần giở lại những trang Hồi Ký của nhạc sĩ Phạm Duy, người đã vào Nam năm 1951, tức là 3 năm trước phong trào Di Cư, nhà soạn nhạc tài ba ấy khi di tản ra nước ngoài mới tỏ ý hối tiếc rằng đã không hề trước tác một bài nhạc nào để ca ngợi thành phố Sài Gòn, nơi ông sống những ngày phong phú nhất đời ông. Xin trích Hồi Ký Phạm Duy, Thời Phân Chia Quốc Cộng (trang 399):
“Hơn 20 năm sống ở Saigon mà tôi không có một tiếng hát nào cho thành phố nơi tôi sống những ngày phong phú nhất đời mình. Saigon không phải chỉ có con đường Duy Tân cây dài bóng mát để tôi đưa người tình đi học. Tuy cũng có Y Vân “Ghé Bến Saigon” để thấy Saigon đẹp lắm, Saigon ơi, Saigon ơi... Và có thêm Hoàng Anh Tuấn cùng với Phạm Đình Chương nhìn mưa Saigon để nhớ tới mưa Hà nội (bản “ Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội”)... nhưng nói chung, lũ nhạc sĩ chúng tôi rất vô ơn đối với Saigon.”
Thật vậy, thành phố Sài Gòn đáng được ca ngợi! Sài Gòn ngày xưa vừa đẹp lại hiền! Miền Nam trù phú và đầy tình người là mảnh đất lành đáng sống thật! Và nhạc sĩ Phạm Duy lại viết tiếp lời an ủi:
“Phải bỏ xứ ra đi, phải sống trong thành phố bị đổi tên, rồi mới hối hận để có khá nhiều nhạc sĩ lưu vong hay ở trong nước hối hả soạn ra sau ngày 30-4-75 những bài như “Saigon Ơi Vĩnh Biệt”, “Saigon Bây Giờ Buồn Không Em”, “Saigon Vĩnh Biệt Tình Ta”, “Saigon Niềm Nhớ Không Tên”, “Saigon Của Tôi”, “Saigon Ôi Thôi Đã Hết”… Con người là thế đó, có viên ngọc trong tay không biết giữ, mất rồi mới tiếc ngẩn tiếc ngơ!”
Và những ngày tháng năm từ khi Cựu Hoàng Bảo Đại về nước chấp chánh năm 1949 với danh vị Quốc Trưởng, qua Đệ Nhất Cộng Hòa với Tổng thống Ngô Đình Diệm, và Đệ Nhị Cộng Hòa với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cho đến ngày Quốc Hận 30-4-1975, trong khoảng thời gian đó, chúng ta đếm được Những Ngày Tháng Năm Đẹp Nhất Và Đáng Sống Nhất Của Thế Kỷ 20!
Chỉ riêng về môn túc cầu, những người ái mộ hẳn rất tự hào với thành tích của Đội Tuyển nhà trước 1975. Theo lời cựu tuyển thủ Nguyễn Văn Ngôn tức Ngôn 1 trả lời biên tập viên SS của tuần báo Sức Sống tại Little Saigon (Số Xuân Tân Mùi 1991):
“Nền túc cầu Việt Nam lớn mạnh nhứt vào năm 1964. Tôi còn nhớ, trong giải túc cầu thế giới Đội Tuyển VN đã hạ đội Do Thái 2-0 tại Tel Aviv ở vòng loại. Và đến năm 1968 tại Thái Lan, tranh giải khu vực để đại diện Á Châu tham dự Thế Vân Hội, Đội Tuyển VN đã hạ các nước Thái Lan, Đại Hàn, Mã Lai, Nam Dương. Rất tiếc, cũng năm đó vì tình trạng chiến tranh (Tết Mậu Thân) đã làm hỏng cơ hội tham dự Giải Thế Vận tại Iran của đoàn tuyển thủ VN (sau đó đội Đại Hàn đứng thứ nhì bảng thay thế). Một thành tích khác cũng lừng lẫy là đoàn cầu VN đã mang về chiếc cúp vô địch Á Châu tranh tại Mã Lai: Đó là giải Merdeka 1966”.
Việt Nam 50 Năm Trước Và 50 Năm Sau
Không phải như những báo cáo láo của Việt Cộng theo như nhận xét “3 chữ D: Dại Dốt Dối” của Giáo sư Phạm Thiều, bản Thống Kê về tình trạng kinh tế của Việt Nam 50 năm trước và 50 năm sau do học giả Đỗ Thông Minh ở Nhật sưu tầm (từ Economic Bulletin / Singapore ngày 14-4-2007 trang 738) đã trưng dẫn rất chính xác sự huy hoàng về kinh tế của miền đất phương Nam vào thời Đệ Nhất Cộng Hòa so sách với 35 năm sau dưới chế độ XHCN. Bản thống kê về Lợi Tức Đầu Người trong 50 năm qua như sau:
Năm 1956 Năm 2006
Nhật 215 đô 30.000 đô
Đài Loan 121 12.000
Mã Lai 246 4.520
Thái Lan 64 2.450
Indonesia 87 1.150
Nam Việt Nam 144 Việt Nam (cả nước) 550
Bản thống kê nói lên sự phát triển kinh tế quá chậm theo kiểu kinh tế thị trường với định hướng XHCN của Việt Nam. Năm 1956, Việt Nam Cộng hòa của miền Nam hơn nhiều nước. Đến năm 2006, dưới sự điều hành của Đảng, CHXHCN Việt Nam đứng hạng chót và thua xa các nước. Than ôi! Thành tích của những Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người!
Gần đây nhất, nhân ngày 30-4-2008, từ Paris, Bùi Tín viết bài Giải Phóng Ư? Độc Lập Ư? Bài viết ngắn, lời văn tâm tình thật cảm động, Bùi Tín đã thật sự bước vào cuộc Đại Đoàn Viên Của Dân Tộc và trong tình thương yêu bao la đó, ông thốt lên những lời kêu gọi chân tình:
“Tôi bỏ hết danh vọng hảo, chức tước phù du, huân chương mai mỉa, tự hổ thẹn từng cao ngạo vô duyên về chuyện vào Dinh Độc Lập sớm, xế trưa ngày 30-4, vớ vẩn lạc điệu cả, cá nhân lầm lạc, ngộ nhận hết.”
“Để làm gì cơ chứ? Để đất nước ra nông nổi này ư ? Độc lập, KHÔNG! Tự Do, KHÔNG! Chủ quyền, KHÔNG! Về mặt nào Việt Nam cũng đứng dưới 100 nước khác!”
“30 tháng 4 năm nay, tự thâm tâm, tôi chỉ có một lời kêu gọi với các bạn bè và đồng chí cũ của tôi, hãy quý trọng lòng yêu nước thương dân của chính mình. Bạn hãy tự phục hồi lòng yêu nước thương dân trọn vẹn của mình để cùng mọi người Việt Nam tỉnh táo và tử tế tranh đấu cho một Tổ Quốc Việt Nam thật sự độc lập, thật sự tự do, dựa vững vào Lịch Sử Dân Tộc và Thời Đại”.
Miền Nam Tiến Thật Xa Trên Lộ Trình Xây Dựng Dân Chủ
Vào cuối thập niên 60, với sự điều hợp của Giáo Sư Nguyễn Văn Bông cùng một số Dân Biểu Hạ Viện, Miền Nam đã thiết lập được Dự Thảo Quy Chế Đối Lập. Đây là cái mốc thật quan trọng trên lộ trình xây dựng dân chủ Miền Nam đã đạt được. Một Điểm Son rực rỡ đáng được ghi vào lịch sử Dân Tộc, nhất là vào lúc đó Miền Bắc tung hết sức mạnh quân sự và tuyên truyền để đánh chiếm Miền Nam cho kỳ được, không từ nan bất cứ một hành động khủng bố và tuyên truyền xảo quyệt nào. Xin mở ngoặc để viết đôi dòng về Giáo Sư Nguyễn Văn Bông. Ông sinh năm 1929 tại làng Kiểng Phước thuộc miền duyên hải của tỉnh Gò Công ngày xưa. Ông nội làm nghề thợ bạc, cha làm thợ sửa xe đạp. Ông nhà nghèo nhưng may mắn nhận được học bổng để học trường Phan Thanh Giản Cần Thơ. Rồi ông sang Pháp du học bằng vé tàu hạng chót nằm dưới boong tàu. Đến Pháp, ông vừa làm vừa học, lần lược đậu Tú Tài, Cử Nhân, và đến năm 1960 ông đậu Tiến Sĩ Luật khoa. Ba năm sau, Nguyễn Văn Bông tạo thành tích trong Lịch Sử Sinh Viên Du Học vang danh là Người Việt Nam Đầu Tiên Đậu Bằng Thạc Sĩ Công Pháp Quốc Tế. Ông được mời về nước dạy tại Đại học Luật khoa. Đến 1964, ông được cử vào chức Viện Trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Ông đã góp phần rất lớn trong việc đào tạo một thế hệ cán bộ hành chánh tài ba cho Đất Nước. Chế độ Miền Nam, với Dự Thảo Quy Chế Đối Lập, đã tiến thật xa trên lộ trình xây dựng dân chủ.
Giáo sư Nguyễn Văn Bông, người chiến sĩ tài ba xây dựng dân chủ cho Dân Tộc, đáng buồn thay, Đảng Cộng Sản lại xem là kẻ thù cần phải tiêu diệt! Chúng đã âm mưu sát hại Giáo sư 3 lần, đến lần thứ ba mới thành công! Ngày 10-11-1971, lúc 12 giờ trưa, Giáo sư bị Việt Cộng giết bằng chất nổ quăng vào dưới xe của ông khi ông đang trên đường từ Học Viện về nhà. Ngọn lửa thiêng Dân Tộc được thắp sáng từ thời Trưng Triệu xa xưa tạo thành Hồn Thiêng Sông Núi, từ nay với anh linh của Giáo Sư Nguyễn Văn Bông hòa nhập vào, xin hãy soi đường dẫn lối cho du sinh Việt Nam học thành tài về nước xây dựng nền dân chủ tiến bộ và tránh xa chế độ Cộng Sản độc tài sở trường dùng khủng bố giết người bịt miệng để cai trị. Đến bây giờ là Mùa Bịt Miệng 2007, Đảng Cộng Sản vẫn còn lúng ta lúng túng với chế độ độc tài đảng trị không chấp nhận đối lập, làm chủ tất cả các báo và đài để giết tự do ngôn luận, thành lập Giáo Hội Quốc Doanh để giết tự do tín ngưỡng, thành lập Nghiệp Đoàn Quốc Doanh đứng về phía Tư Bản nước ngoài để bốc lột công nhân Việt Nam… Bức Màn Sắt, Bức Màn Tre, Bức Tường Ô Nhục Bá Linh vang bóng một thời xa xưa thì nay đã bị dẹp bỏ và vất vào Sọt Rác Lịch Sử rồi. Nhưng Bắc Bộ Phủ của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đi ngược chiều lịch sử, lại thiết lập Bức Tường Lửa để ngăn chận thông tin điện tử từ thế giới bên ngoài, và buông thả công an đi khắp nơi để đàn áp Dân Tộc vô cùng thô bạo! Cứ mãi bịt mắt, bịt tai, bịt miệng Dân Tộc mà cứ tự đề cao là “Cách Mạng”!
Tình Người Của Miền Đất Phương Nam
Người cán bộ văn hoá vận Vũ Hạnh của Đảng Cộng Sản đã có phúc duyên được sống để nằm vùng trọn vẹn ở miền Nam trong những ngày tháng năm đẹp đó. Xin nhắc lại đôi dòng về Vũ Hạnh. Nhà văn sinh năm 1926 tại Thăng Bình, Đà Nẵng, theo Cộng Sản từ năm 1945, sau hiệp định Genève, ông được phân công nằm vùng ở miền Nam. Ông là tác giả nhiều tác phẩm nghiên cứu như Đọc Lại Truyện Kiều, Tìm Hiểu Văn Nghệ, truyện dài Chất Ngọc, Cú Đấm, vân vân... nhưng nổi tiếng nhất là quyển Người Việt Cao Quý ẩn dưới bút danh A. Pazzi. Nhiều lần bị chế độ Sài Gòn bắt bỏ tù vì chống lại bằng tác phẩm và hành động. Tuy vậy, Vũ Hạnh cũng được nhiều người giúp đỡ và bảo lãnh như các linh mục Chân Tín và Thanh Lãng. Cả đến văn thi sĩ Hà Thượng Nhân, tức là trung tá Phạm Xuân Ninh, lúc phụ trách ngành tâm lý chiến về các lãnh vực Chính Huấn, Phát Thanh và Báo Chí cũng vì tấm lòng thơ mà tế độ nhiều lần cho Vũ Hạnh. Trong quyển Quê Hương Bạn Hữu Tù Đầy của Trần Dạ Từ, chúng ta được biết thêm về Vũ Hạnh như sau: “Vũ Hạnh thời trước, viết phê bình văn nghệ cho báo Bách Khoa theo lối hiện thực xã hội kiểu Cộng Sản, rồi nằm trong tờ Điện Tín của nhóm Lý Quý Chung, chuyên viết những chuyện kháng chiến đường rừng. Báo Sống của anh Chu Tử có hồi chỉ đích danh Vũ Hạnh là Cộng sản nằm vùng.”
Vũ Hạnh Tác Giả “Bài Mặt Đối Mặt Với Nhân Dân”
Đến năm 1990, sau 15 năm dưới sự cai trị độc tài của Đảng Cộng Sản, nhà văn Vũ Hạnh có viết một bài rất đặc sắc nhan đề Mặt Đối Mặt Với Nhân Dân. Bài đó được dịch ra Pháp ngữ và đăng trên tờ Nouvelle de Moscow, một tờ báo khuynh hữu ở Mạc Tư Khoa. Một phần của bài đó là bản photocopy với chữ viết tay của Vũ Hạnh được đăng tải trong quyển Bút Ký Irina của Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ (Tập 1, trang 48). Xin mời quý bạn đọc:
“Một vài suy nghĩ về con người và xã hội Việt Nam hiện nay. Sau ngày giải phóng 15 năm, nhiều người Việt Nam đánh giá về Đảng lãnh đạo theo hai cách nhìn khác nhau: một là Đảng đã có công tập họp toàn dân chống những kẻ thù xâm lược vô cùng lớn mạnh để giành độc lập, thống nhất cho tổ quốc. Tuy nhiên, về mặt lãnh đạo đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng đã thất bại, làm cho đa số dân chúng nghèo đi, chịu nhiều bất công, phiền hà, đất nước thua kém các nước láng diềng từ xưa được xem là chậm tiến nhất vùng Đông Nam Á. Cách thứ hai có vẻ quyết liệt hơn nhiều khi khẳng định rằng không thể tách rời giai đoạn cứu nước với dựng nước, vì giai đoạn đầu là tiền đề cho giai đoạn sau . Sự hi sinh to lớn kéo dài suốt mấy mươi năm để chỉ đem lại nghèo đói, bất công thì hi sinh ấy có ý nghĩa gì? Bây giờ người ta bắt đầu hoài nghi chủ nghĩa xã hội, hoài nghi học thuyết Mác Lê...”
Bài viết phân tích rất sâu sắc và rành rẽ cuộc khủng hoảng không lối thoát ở Việt Nam và quyết liệt đòi hỏi chế độ phải thay đổi thực sự và toàn diện, trong đó có đoạn nói: “Vì sống bằng ngụy biện, người ta (tức là Đảng Cộng Sản) lại dùng ngụy biện để minh chứng rằng các biểu hiện xấu chỉ là hiện tượng chứ không phải là bản chất. Nhưng hiện tượng lập lại mãi cũng là bản chất. Hoặc bảo: đó là những sự suy thoái nhất thời, nhưng cái nhất thời ấy được đo bằng suốt chiều dài chế độ. Một cách giải thích khá quen thuộc khác là do kẻ thù đế quốc phá hoại, nhưng sao lại để kẻ thù phá hoại? Và sao chúng lại phá hoại dễ dàng như vậy?”
Theo dõi phong trào nhân dân các nước Đông Âu nổi lên bằng những cuộc biểu tình ôn hòa, xử dụng quyền Dân Tộc Tự Quyết và thực hiện cuộc Cách Mạng Nhung không đổ máu để xây dựng nền dân chủ và loại trừ chế độ Cộng Sản, nhà văn Vũ Hạnh đã theo quan điểm duy tâm mà cho rằng: “Đó là điều cần phải xảy ra, đó cũng là lẽ nhân quả ở đời”.
Và sau cùng trong đoạn kết nhà văn viết: “Câu trả lời thực sự cho V.N. không phải ở nơi Liên Xô, Trung Quốc, hay nước Đông Âu nào khác mà là ở tại V.N. Và chỉ khi nào những người lãnh đạo V.N. thấy rõ về xã hội mình và có can đảm sửa đổi những tệ trạng gây nên cho những con người V.N. bằng những phương thức hoàn toàn phù hợp với người V.N., thì chỉ lúc ấy quần chúng mới khỏi phải dùng đến sự thô bạo để giành lấy quyền định đoạt cho số phận mình.”
Vũ Hạnh Chối Bỏ Bài Viết Của Mình
Câu chuyện về nhà văn Vũ Hạnh bắt đầu bằng chuyến viếng thăm thành phố Saigon của Irina Zisman, một phụ nữ Nga có chồng là người Việt Nam. Bà học tiếng Việt ở Mạc Tư Khoa, nói tiếng Việt thật lưu loát và viết văn Việt thật điêu luyện như bất cứ một nhà văn Việt Nam tài ba nào. Trong tác phẩm Bút Ký Irina, bà kể lại rằng trong chuyến viếng thăm Sài Gòn vào cuối tháng 5 năm 1991 (xin chú ý: tác giả Irina viết là Sài Gòn chớ không viết Thành phố Hồ Chí Minh!), bà được mời đến Hội Nhà Văn và đã gặp Vũ Hạnh ở đấy. Bỏ ngoài chuyện được đãi trái măng cụt và bàn luận về truyện Kiều với Vũ Hạnh, khi ra về, bà có mời Vũ Hạnh lại chỗ bà ở để nói chuyện cho được tự nhiên, nhưng ông gạt đi: “Nếu như vậy, cấp trên sẽ hiểu nhầm.”
Trong một ghi chú của Irina, thì sự hiểu lầm bắt đầu từ một bài viết ký tên Vũ Hạnh đăng trên tờ báo Tin tức Mátxcơva (xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Pháp ở thủ đô Liên Xô). Điều đáng tiếc là chính Vũ Hạnh đã hiểu nhầm về cái tên Vũ Hạnh như thế! Về biến cố nầy, Irina viết tiếp: “Tôi nghĩ về các văn sĩ của thời đại chúng ta. Chúng ta, những người chỉ biết đọc lại các tác phẩm của những người xưa. Tôi nghĩ về tấn bi kịch của nhà văn luôn luôn giấu kín suy nghĩ của mình, về các nhà báo viết bài không phải để đăng báo. Về tấn bi kịch của các văn nghệ sĩ đã được cởi trói nhưng vẫn có cấp trên. Và về những cấp trên chuyên môn hiểu nhầm.”
Đó là lời bình rất phớt nhẹ của Irina về việc Vũ Hạnh chối bỏ bài viết của mình, lời phê bình phớt nhẹ đến nổi tưởng chừng như nó không chạm đến ai cả. Nhưng với Nguyễn Ngọc Bích thì không. Trong lời đề Bạt cho quyển Bút Ký Irina (Tập 1 trang 1600), ông tung ra lời phê rất sâu sát như sau. Xin mời quý bạn đọc kỹ:
“Một bài viết như vậy, nếu Vũ Hạnh có can đảm nhận lãnh trách nhiệm của mình -- như Chân Tín đã làm, như Nguyễn Ngọc Lan cũng có can đảm xác nhận -- thì ông đã chuộc được phần nào những phản phúc mà ông đã dành cho bạn bè ông khi Cộng Sản vào thành. Đằng này, ngờ đâu sau khi chị Irina đã cất công dịch sang tiếng Nga cho đăng báo Nga thì Vũ Hạnh ở nhà vội phủ nhận mình là tác giả bài báo. Để cho Hà Nội có thể ngụ ý là chị Irina đã bịa đặt ra bài báo, chứ làm gì có một bài báo như vậy. (Thành thử trong Bút Ký, chị đã phải cho in phóng ảnh cả tuồng chữ của Vũ Hạnh để anh khỏi chối được mãi). Thì ra, anh không hơn gì nhân vật mô tả trong Ly Thân của Trần Mạnh Hảo, chỉ giỏi nghề đón gió -- và khi thấy gió ngược chiều thì vội vã tháo bỏ hết cả nhân phẩm của mình để lộ nguyên hình là một thằng hèn.”
Chúng ta hẳn biết chỉ có một Vũ Hạnh mà thôi, nào đâu có Vũ Hạnh thứ hai là nhân vật do chị Irina tưởng tượng ra! Trong photocopy bức thơ của Vũ Hạnh gởi cho chị Irina còn có ghi cả địa chỉ của Vũ Hạnh ở Saigon kia mà, này nhé: 647 Điện Biên Phủ. Q3.Thành phố Hồ Chí Minh. Trước sau chỉ có một Vũ Hạnh đó mà thôi! Đó là Vũ Hạnh, đảng viên Việt Cộng nằm vùng ở Saigon trước ngày 30-4-1975. Đến khi Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam, đến ngày 3 tháng 4 năm 1976, công an Việt Cộng mở chiến dịch hốt gọn các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ tự do ở Việt Nam cho vào tù và nghe đâu danh sách các văn nghệ sĩ ấy là do Vũ Hạnh thiết lập. Trong hồi ký của Tạ Tỵ, quyển Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi, thì danh sách ấy do Vũ Hạnh cùng thiết lập với Sơn Nam.
Bàn về ngày bi thảm 3 tháng 4 năm 1976, ngày mà sau nầy chính thức trở thành Ngày Văn Nghệ Sĩ Việt Nam, nhà văn kiêm nhà báo Trần Dạ Từ viết: “Trong những trang đen tối nhất của lịch sử văn hoá nhân loại, kể cả thời vua Tần đốt sách chôn học trò ở phương Đông, Nê Rô đốt thành La Mã ở phương Tây, Mao Trạch Đông làm cách mạng văn hoá ở Hoa Lục, sự bách hại nhắm riêng vào giới cầm bút và nghệ sỹ, chưa bao giờ đạt tới mức qui mô như biến cố ngày 3 tháng Tư 1976 ở Việt Nam, cả về tính cách lẫn thời gian.”
Xin trở lại thời gian Vũ Hạnh nằm vùng dưới chính thể Việt Nam Cộng Hoà, khi được lảnh tiền nhuận bút 120 ngàn đồng (giá trị bằng 8 cây vàng) cho một quyển sách, với tiền thù lao xứng đáng như vậy, Vũ Hạnh như là người đang được ăn chiếc bánh thật mà trong lòng cứ chết mê chết mệt đeo đuổi theo chiếc bánh vẻ do Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản rêu rao từ năm 1945.
Chuyện Văn Nô Phục Vụ Lâm Tặc: Một Chỉ Vàng
Việt Nam Cộng Hoà đang trên đà phát triển theo cùng một nhịp với Đài Loan và Đại Hàn, thì bị bức tử vào ngày 30-4-1975. Ôi thôi rồi! Những Ngày Tháng Năm Đẹp của Thế Kỷ 20! Công lao tranh đấu ôn hòa của Cựu Hoàng Bảo Đại (sau là Quốc Trưởng) để tranh đoạt độc lập từ trong tay Pháp! Đến Đệ Nhất Cộng Hoà với Tổng thống Ngô Đình Diệm và Đệ Nhị Cộng Hoà với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Quân Dân Cán Chính miền Nam đã can trường chống trả bộ đội Việt Cộng ở ngoài chiến trường mà còn phải lo đón đỡ những đòn đánh lén của nhóm Việt cộng nằm vùng như Vũ Hạnh ở hậu phương! Rồi còn phải hứng chịu biết bao nhiêu điều thóa mạ trên mặt trận tuyên truyền vu khống của Việt Cộng, bị mang tiếng nào là Việt gian bán nước, bồi Tây, tay sai Mỹ Ngụy, Thiệu Kỳ ác ôn…
Những Ngày Tháng Năm đẹp của thế kỷ 20 đã sang trang nhưng đã đi vào Lịch Sử như một Điểm Son sáng chiếu để rồi bị thay thế bằng những trang sử đen tối nhất từ đấy cho đến đầu thiên niên kỷ thứ ba và kéo dài cho đến bao giờ! Trên những trang sử vô cùng đen tối ấy, thử xem ta có thể đọc được đôi ba dòng về cuộc sống của giới văn nghệ sĩ hay không? Đây, những dòng chữ ảm đạm tác giả Bùi Ngọc Tấn cố gắng và can đảm viết thật rõ nét cho chúng ta được đọc. Trong quyển Viết Về Bạn Bè, tác giả Bùi Ngọc Tấn thố lộ rằng vì chưa viết được về mình thì hãy viết về những bạn văn và những nhếch nhác trần ai của họ. Có ba người bạn văn của tác giả, Đình Kính và Chu Lai là hai nhà văn quân đội và Nguyễn Quang Thân là tác giả nhiều thiên tiểu thuyết một thời làm say mê độc giả ở quốc nội. Trong cảnh nhếch nhác trần ai ấy, ba nhà văn, vì muốn có tiền, chỉ còn cách dùng văn tài của mình để đi viết thuê, tức là làm văn nô, chứ không phải viết cho mình! Bùi Ngọc Tấn viết:
“Để có tiền, nói cách khác, để sống còn, thôi thì đành gác lại những trang sách vẫn nghiền ngẫm nung nấu, những tác phẩm sẽ được viết ra bằng tim gan mình. Hãy để lại sau. Để đến bao giờ chưa biết, nhưng trước mắt là kiếm sống. Đình Kính, Chu Lai, Nguyễn Quang Thân đã phải ép mình chấp nhận viết thuê cho viên giám đốc một lâm trường quốc doanh. Dĩ nhiên, họ không thể viết theo ý mình. Họ phải vận dụng ngôn từ, chữ nghĩa, kể cả những mánh lới mang tính lưu manh, để thỏa mãn ý muốn của người thuê viết, là biến Rừng Xưa Lá Úa trở thành Rừng Xưa Xanh Lá.”
“Rừng xưa lá úa. Nhưng những con người đến cùng rừng hôm nay đã thay lá cho rừng. Không phải đất trời, sự vận động của thời tiết, của bốn mùa đã làm nên điều ấy. Mà chính là con người. Con đường mới mở trong rừng đâu phải chỉ làm bằng máy móc. Trước hết, nó được làm bằng trí tuệ, bằng tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội của những người làm việc âm thầm không cần ai biết đến... Rừng thay lá. Rừng sống lại. Rừng lại hát khúc ca hùng tráng của rừng.”
“Những cây bút viết thuê nầy biết rằng họ phải bịa, cho dù phải cúi mặt vì xấu hổ với lương tâm. Nhưng biết làm gì khác hơn khi vợ con, bố mẹ và cả chính mình còn có một thứ nợ đời phải trả. Đó là nợ áo cơm. Bằng mọi giá họ phải đáp ứng đòi hỏi của người thuê là hoàn tất cuốn sách có tên Rừng Xưa Xanh Lá trong thời hạn hai tháng được nuôi ăn, và sau khi hoàn tất được trả công mỗi người đúng một chỉ vàng như đã quy định trong hợp đồng từ lúc khởi đầu.”
Dưới ngòi bút của Bùi Ngọc Tấn thì ba bạn văn của ông phải bẻ cong ngòi bút, không phải để làm bồi bút cho đảng Cộng Sản, mà còn tệ hơn nữa, là làm văn nô để viết thuê cho viên giám đốc lâm trường quốc doanh vốn là phường lâm tặc. Món tiền còm nhuận bút một chỉ vàng trả công cho mỗi một người bạn văn ấy chính là tiền tên thủ trưởng lâm tặc đã phá hoại tài nguyên của đất nước mà tư túi riêng cho mình.
Xin trở lại chuyện nhà văn Vũ Hạnh. Không cần phải chờ đến thiên niên kỷ thứ ba, để ông đọc tác phẩm Viết Về Bạn Bè của Bùi Ngọc Tấn, ông mới biết các nhà văn sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa nghèo khổ như thế nào. Theo bài Mặt Đối Mặt Với Nhân Dân của ông viết vào năm 1990, chỉ sau ngày giải phóng 15 năm, ông đã mở mắt để thấy rõ sự thất bại của Xã Hội Chủ Nghĩa và vì ông là văn sĩ với tâm hồn dễ dàng rung cảm, nên hẳn ông cũng rất thương xót cho số phận hẩm hiu của ba nhà văn xấu số kia phải sống đọa đầy trong kiếp văn nô. Tôi thiết nghĩ chắc có nhiều độc giả cũng muốn biết số phận của Vũ Hạnh như thế nào dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, có giống như số phận hẩm hiu khốn khổ của ba bạn văn của Bùi Ngọc Tấn hay không!? Thì có khác gì với những văn nghệ sĩ và trí thức Hà Nội đã bỏ thủ đô theo Hồ Chí Minh lên Việt Bắc kháng chiến chống Pháp: kháng chiến thắng lợi, trở về thủ đô Hà Nội để thấy Dân Tộc bị mất tự do dân chủ và nô lệ cho Liên Sô và Trung Quốc. Họ lại đứng lên tranh đấu bằng ngòi bút của mình trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Nhưng họ lại bị đàn áp khủng bố, tù đày, đói rách, khốn khổ đến mức: sự thật đã có những nhà văn viết đêm, không có một tách cà phê để uống! Đã có những thi sĩ không làm thế nào mua được dăm điếu thuốc lá trong cơn nghiện! Và đã có một kịch sĩ bán chiếc đồng hồ đeo tay của mình để bồi dưỡng viết cho xong cuốn sách, nhưng in ra không đủ tiền để chuộc chiếc đồng hồ! Còn Hữu Loan, trong căn nhà nhỏ trong đêm tối, chỉ mơ ước có một ngọn đèn dầu để thức mà viết!
Bây giờ, tôi xin trở lại đề tài Có một Vũ Hạnh hay có hai Vũ Hạnh? Chắc có nhiều bạn đọc cho rằng Vũ Hạnh thứ nhất đã viết bài phê bình đảng năm 1990 là Vũ Hạnh can đảm. Còn Vũ Hạnh thứ hai là Vũ Hạnh hèn nhát, không có cái đảm lược như Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan, nên đã chối rằng không có viết bài của mình. Đó là Vũ Hạnh hèn như nhân vật trong truyện Ly Thân của Trần Mạnh Hảo mà Nguyễn Ngọc Bích đã phê bình. Nhưng không phải vậy. Người viết xin phép không muốn dùng chữ “hèn” để phê bình Vũ Hạnh và cũng xin ông Nguyễn Ngọc Bích thứ lỗi vì đã không phê bình nhất trí với ông.
Ở Miền Bắc, Ai Cũng Mang Họ “SỢ”
“Tránh voi không xấu mặt nào” cổ nhân ta dạy thế. Trong một chế độ coi rẻ sinh mạng con người và không từ nan bất cứ thủ đoạn nào để tiêu diệt người đối lập, ai ai cũng phải áp dụng triết lý sống như Nguyễn Tuân: “Tao mà còn sống và viết được đến ngày hôm nay là nhờ tao BIẾT SỢ chúng mày ạ!”, cụ vừa nâng ly rượu vừa nói mà nước mắt chảy ròng ròng! Còn nhạc sĩ Văn Cao, trước khi lìa đời hai tuần lễ, mới dám nói với một phóng viên ngoại quốc:“Bây giờ tôi đã 73 tuổi, tôi không còn biết sợ gì nữa. Chẳng ai giết tôi được nữa.”
Nhà thơ Chế Lan Viên đã ăn Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh suốt đời. Nhưng đến cuối cuộc đời, bị ăn quá nhiều Bánh Vẽ nên phát ách, ông mới tuôn những dòng thơ phản ứng như sau:
Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn,
Cầm lên nhấm nháp
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Đêm vui!
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Ngay đến người hùng Điện Biên Phủ là đại tướng Võ Nguyên Giáp còn phải ép mình nhẫn nhục thay. Xin nhắc lại chuyện khủng bố do cánh Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chủ xướng: chỉ trong một đêm, họ sai công an bắt sạch sẽ mấy chục tướng tá trực thuộc bộ Tổng Tham Mưu thân cận của tướng Giáp đem về tra khảo tàn nhẫn bắt nhận tội nói xấu tổng bí thư, mặc dầu những ông sĩ quan nầy có đến ngót nghét 40 tuổi đảng. Vậy mà tướng Giáp không một lời phản đối để binh vực thuộc hạ của mình. Về vụ việc này, tác giả Bùi Tín có hỏi tướng Giáp sao không can thiệp để đòi công bằng cho những người làm dưới quyền ông bị bắt giam oan ức thiệt thòi hàng mấy chục năm (Trích quyển Hoa Xuyên Tuyết trang 143). Ông trả lời đại ý: có chứ, nhưng không thể làm gì nổi trong cái cơ chế kỳ lạ này, khi ngành tổ chức, ngành an ninh là chúa tể, lộng hành. Nếu không cẩn thận thì tất cả còn bị trù nặng nề và kéo dài hơn nữa, và bản thân ông cũng bị tai họa như chơi!
Một đoạn văn của Lạc Nam trong bài Diễn Tiến Hòa Bình (Bán Tuần Báo Việt Luận, ngày 5-4-2005): “Trong Bộ Chính Trị, người duy nhất biết đọc biết viết là Võ Nguyên Giáp bị kết tội “chống đảng”. Ông là người có uy tín trong quân đội và nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ. Chính Lê Đức Thọ và Lê Duẩn hỏi cung trực tiếp và buộc Võ Nguyên Giáp nhận tội “chống đảng”… Rồi sau đó, mỗi lần có tiếng chuông bấm ngoài cổng, thì cả gia đình Võ Nguyên Giáp đứng tim vì tưởng người ta lại đến bắt chở đi…”
Đốn ngả hết tay chân bộ hạ của tướng Giáp chưa đủ, phe cánh Lê Duẩn còn hạ nhục ông, bắt ông phải phụ trách việc hạn chế sinh đẻ thuộc công tác kế hoạch hoá gia đình. Vụ việc nầy làm cho ngoài dân gian có câu vè truyền tụng:
“Ngày xưa đại tướng cầm quân
Ngày nay đại tướng cầm quần chị em.”
Và một câu vè khác:
“Ngày xưa đả viện công đồn
Ngày nay đại tướng bịt l...chị em”
Vì thế có người viết bài rằng “Đại tướng đã thắng Pháp, nhưng thua Đảng”.
Có Một Vũ Hạnh Hay Có Hai Vũ Hạnh
Vì tình trạng đất nước mình như thế cho nên tôi không dùng chữ “hèn” với nhà văn Vũ Hạnh, nhất là thời điểm sau khi chế độ cộng sản ở các nước Đông Âu và Liên Sô sụp đổ, công an Cộng Sản càng ra sức đàn áp khủng bố tàn bạo độc ác hơn bao giờ hết.
Nhưng thưa quý bạn đọc, để trả lời câu hỏi Có mấy Vũ Hạnh, xin trả lời ngay là có hai Vũ Hạnh:
1-Vũ Hạnh thứ nhất là Vũ Hạnh nằm vùng được thưởng thức chiếc bánh thật để phá hoại Việt Nam Cộng Hòa (“nằm vùng” mà lại được ăn bánh thật!)
2-Vũ Hạnh thứ hai là Vũ Hạnh Quan Chức Đỏ được ăn cái bánh vẽ to tướng do Bác Hồ và Đảng Cộng Sản ưu ái đút cho trong chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Viết đến đây, tôi chợt nhớ lại chuyện Con Chó Và Miếng Thịt trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà ngày xưa, trước năm 1945, học sinh nào cũng có đọc. Nội dung chuyện nầy bàn về việc thả mồi bắt bóng y như câu chuyện bánh thật và bánh vẻ của Vũ Hạnh, cho nên tôi cũng xin sao chép lại để đọc chơi cho vui. Câu chuyện trong sách Giáo Khoa Thư ngày xưa nguyên văn như sau:
“ Một hôm, một con chó vào hàng cơm ngoạm trộm miếng thịt. Người nhà hàng trông thấy, vác gậy đuổi theo. Con chó đâm đầu chạy. Khi chạy đã xa, đến một cái cầu, con chó dừng lại để ăn. Nhìn xuống sông, thấy có một miếnng thịt to hơn miếng thịt đang ngậm trong miệng. Nó liền nhả ngay miếng thịt ấy ra, nhảy xuống sông định lấy miếng thịt ở dưới nước. Nhưng nào có lấy được! Chẳng qua chỉ là bóng miếng thịt nước chiếu lại mà thôi. Còn miếng thịt, dòng nước cuồn cuộn kéo đi, con chó hết sức đuổi theo cũng không sao lấy lại được nữa.
Ôi! con chó lấy trộm thịt là có tội, con chó nhả bỏ miếng thịt là khờ dại. Thả mồi bắt bóng, bóng bắt chẳng được, mồi kia không còn, chẳng là đáng tiếc lắm sao! Người ta ở đời chẳng nên đứng núi này, trông núi nọ, đã được voi, lại còn đòi tiên. Cái gì đã nắm chắc trong tay, ta chớ nên buông ra mà chực những cái hão huyền đâu đâu.”
Người dân ở nông thôn Việt Nam sống gần thiên nhiên cũng có nhận xét tương tự:
Con cá trong lờ dật dờ đôi mắt,
Con cá ở ngoài lúc lắc chun vô.
Bạn đọc thân mến ơi! Đó chỉ là chuyện chó và cá, mà sao lại giống y như chuyện Vũ Hạnh và chuyện Dân Tộc Việt Nam mình vô cùng!
Nhận Xét Của Bùi Tín Về Miền Nam
Sau ngày 30-4-1975, Bùi Tín sống ở Sài Gòn trong 4 năm liền. Cùng với nhiều người từ miền Bắc vào Nam sinh sống, Bùi Tín đã “khám phá” miền Nam, đúng như nó vốn có, chứ không như trước đó được Đảng tuyên truyền. Trong quyển Mây Mù Thế Kỷ, xuất bản ở Paris mùa Thu 1998, tác giả Bùi Tín viết (trang 28): “Chúng tôi dần dần thấy rằng, chế độ chính trị ở miền Nam có những cái dở, cái kém, nhưng dù sao nó cũng có điểm trội hơn miền Bắc, như có tự do kinh doanh, đặc biệt là có tự do báo chí, ngôn luận, có báo tư nhân, có tự do xuống đường, biểu tình, tuần hành, tán phát truyền đơn, có tự do tín ngưỡng… là những điều ở miền Bắc chưa từng có.”
Đó là những quyền căn bản người dân miền Nam đã được hưởng, và nhạc sĩ Phạm Duy còn được thêm “quyền tự do sáng tác” vì chính ở miền đất đẹp phương Nam đó, người Nhạc Sĩ họ Phạm tài ba của thế kỷ, cũng như tất cả các văn nghệ sĩ khác nhất là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tất cả đã “sống những ngày phong phú nhất đời mình” . Nhưng sau ngày 30-4-1975, Đảng đã lấy lại hết, không còn tự do nào cả, và phát cho Cái Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh!
Tâm Sự Ngậm Ngùi Của Cụ Vũ Đình Huỳnh
Trong quyển hồi ký Hỏa Lò, tác giả Nguyễn Chí Thiện có nói về một người làng Vân Đình, cùng quê với cụ nghè Dương Khuê, vào đảng năm 25 tuổi, là bộ đội đã tham dự chiến dịch Biên Giới và Điện Biên. Anh đã “giác ngộ” tương đối sớm, nhưng cũng quá muộn để làm lại cuộc đời. Sau Cải Cách Ruộng Đất, sau vụ Nhân Văn, anh biết mình đã lầm. Khi đất nước thống nhất, anh có dịp đi công tác vào Nam ngay và có nhận xét (trang 218 sđd):
“Qua vùng đồng bằng sông Cửu Long, tôi thấy tận mắt nông dân dùng cả gạo để nuôi lợn. Quá no đủ. Đầy tình người. Đặt chân tới thành phố Sài Gòn, tôi giật mình. Phồn thịnh quá! Hạnh phúc quá! Trẻ con thời ngoan ngoản, lễ phép. Hoá ra tuyên truyền toàn bố láo. Cả một cuộc sống như vậy mà không biết giữ lấy. Thực đáng tiếc, đáng trách”.
Trở ra Hà Nội, anh có dịp gặp lại cụ Vũ Đình Huỳnh. Cụ là người quen cũ vì trong thời kháng chiến, anh đã có gặp cụ vài lần. Đây là lời anh thuật trong lần tái ngộ nầy (trang 219 sđd):
“Một cụ già đạo mạo, trang trọng. Nét cương nghị, trung thực, hiện rõ trên vẻ mặt ưu tư, buồn buồn. Cụ ngậm ngùi nói với tôi: “Anh bạn ạ, Sài Gòn là thành phố bị chiếm đóng. Không phải là thành phố được giải phóng. Chỉ vài năm thôi, nó sẽ giống Hà Nội. Tôi cả đời đi làm cách mạng, hy sinh tất cả, chỉ mang trong lòng một nguyện ước: đất nước được độc lập, dân tộc được tự do, no ấm. Tôi đã không làm được điều đó. Thực đắc tội với đồng bào.”
Sài Gòn Năm 1979 Dưới Mắt Vũ Thư Hiên
Sau đây là vài câu chuyện phụ họa để tô thêm vài nét thê thảm cho Cái Bánh Vẽ Hồ Chí Minh. Trước hết là chuyện Sài Gòn Năm 1979 Dưới Mắt Vũ Thư Hiên. Bị giam cầm 9 năm không xét xử, được thả vào năm 1976, và đến tháng 12 năm 1979 thì tác giả Đêm Giữa Ban Ngày Vũ Thư Hiên vào được Sài Gòn. Vũ Thư Hiên thuật về chuyến đi và nhận xét về thành phố Sài Gòn như sau (trang 288 sđd):
“Đó là chuyến đi nhớ đời, rất vất vả từ việc xin cấp Thông hành thay cho Chứng minh nhân dân mà tôi chưa có, tới việc mua vé máy bay. Vào tới tận Chợ Bến Thành rồi tôi mới tin là mình không bị cản lại. Cuộc sống ở Sài Gòn khác xa cuộc sống ở miền Bắc, mặc dầu Sài Gòn 1979 đã không còn giống thời nó là “hòn ngọc minh châu trong Á Đông”. Chế độ tem phiếu đã được áp dụng.”
“Bữa cơm của dân chúng đã phải độn bo bo, chẳng khác gì ở Hà Nội. Nhưng Sài Gòn vẫn sầm uất, vẫn nhộn nhịp, vẫn cố gắng để có cuộc sống riêng, chứ không sống theo chỉ thị. Thành thử nếu gọi cảnh Sài Gòn 1979 là tiêu điều thì không biết gọi cảnh Hà Nội bằng gì cho đúng.”
Theo như câu vè mới phát sinh vào lúc đó “Người Nam nhận họ, Người Bắc nhận hàng”, tình bà con họ hàng thân thương kẻ Nam người Bắc đùm bộc lẫn nhau được nhà văn Vũ Thư Hiên phác họa bằng nét chấm phá: “Người Hà Nội tiếp tục vào Sài Gòn kìn kìn khuân ra tivi, tủ lạnh và trăm thứ bà dằn khác.” Nhưng chữ bà dằn anh Vũ Thư Hiên dùng, thì ở trong Nam chúng tôi quen miệng nói hằm bà lằng, và có người còn nói hằm bà lằng xắng cấu cho có vẻ giống đồng bào Người Việt Gốc Hoa.
Sài Gòn Năm 1977 Dưới Mắt Lương Thành Nĩ
Lương Thành Nĩ là người tỉnh Tây Ninh theo đạo Cao Đài, tác giả quyển Thực Trạng Của Cuộc Chiến Tranh Việt Nam xuất bản ở California, tháng 1-1995. Quyển sách dài 400 trang, được bố cục thành 82 “chương chuyện”, mỗi chương là một câu chuyện ngắn, gọn, đầy đủ ấn chứng, rất dễ đọc. Lương Thành Nĩ viết với tâm niệm cao cả rằng (Trích Lời Tựa, trang 3 sđd) “Mọi người chúng ta hãy làm một điều gì dù là nho nhỏ, hầu góp phần đừng để cho những kẻ gian trá, vốn đã lừa đảo được gần như mọi người trên khắp Thế Giới trong chiến tranh, không còn se tròn, bóp méo được nữa đối với sự thật và lịch sử…”
Ở chương IIL nhan đề Be Bờ Cộng Sản, thời điểm sau 1954, Lương Thành Nĩ nhắc lại câu nói của Hồ Chí Minh (trang 88 sđd): “Ngày nào miền Nam chưa được giải phóng, đồng bào miền Nam còn đói khổ, tôi ăn không ngon ngủ không yên”.
Ngon! Hồ Chí Minh ngon! Đúng là lời nói của kẻ tiểu nhân vô lại tự mình tôn vinh là “Cha Già Dân Tộc” rồi được cả “bầy đàn” văn nô tung hô! Hồ Chí Minh quá gian xảo đã láo khoác bóp méo lịch sử! Vào lúc đó miền Nam nào có đói khổ đâu, chính miền Bắc đang đói khổ mà “Bác” lại không lo. “Bác” chỉ cho dân “Ăn Bánh Vẽ” và lo đem quân vào đánh chiếm miền Nam cho kỳ được! Hãy xem màn kế tiếp của Vở Bi Hài Kịch Giải Phóng Miền Nam.
Rồi miền Nam được “giải phóng” ngày 30-4-1975. Lương Thành Nĩ viết tiếp: “Đến 1977 khi có lập loè cởi mở, phương tiện đi đứng đỡ eo hẹp, người từ Bắc ùa vào Nam làm kẻ hành khất ăn xin với mức độ không tưởng tượng nổi. Hầu như vào bất cứ một quán ăn hay giải khát nào dù nhỏ hay lớn ở tại Thành phố hay Thị xã, Thị trấn nào cũng có người đến than thở cầu mong giúp đỡ. Nhưng thực khách không phải xót dạ nếu những kẻ ăn xin kia là người có tuổi, già cả, có lẽ bởi quá xa xôi nên các cụ không còn sức khỏe để đi từ Bắc vào Nam làm hành khất. Mà thực khách chỉ phải xót dạ vì những chị phụ nữ còn trẻ trung, khoẻ mạnh tay bồng con và những anh thanh niên trai tráng, có những người trông thật là khôi ngô, tuấn tú nhưng quần áo thì dơ bẩn nhăn nheo, cử chỉ thẹn thùng, cặp mắt trắng bệt mở lờ đờ, nhìn thấy họ chẳng còn một chút tự tin nào!”
Về cái xã hội mà Hồ Chí Minh và Lê Duẩn xây dựng ở miền Bắc từ 1954 đến 1975, tác giả Lương Thành Nĩ, người dân Tây Ninh đã can đảm đứng lên nói thay Dân Tộc, và đặt câu hỏi về tương lai của Đất Nước: “Nhìn hình ảnh thanh niên của một xã hội chẳng còn niềm tin thì chắc ai cũng biết mức độ sung mãn của cái xã hội ấy như thế nào rồi phải không, thưa quí vị?!”
“Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình” Không Còn Nữa
“Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình” là một Ca khúc được sáng tác trong những ngày tháng đầu tiên của cuộc Nam Bộ Kháng Chiến. Nhạc sáng tác do anh Nguyễn Văn Thông, một nhạc sĩ vĩ cầm, biệt hiệu Lữ Sinh. Vào lúc đó, anh phụ trách dạy nhạc cho Trại Huấn Luyện Cán Bộ Thanh niên và Thiếu nhi tại địa điểm Cồn Lớn sát bờ biển Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Một buổi trưa trong trại, nhạc sĩ Lữ Sinh đưa bản nhạc anh vừa viết xong cho Xuân Tước và bảo: “Tao viết nhạc, mầy làm lời đi!”. Xuân Tước viết trong quyển Hồi Ký 60 Năm Cầm Bút (Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, trang 31):
“Thế là tôi ngồi xuống. Anh nâng cây vĩ cầm lên, kéo cho tôi nghe một lần. Thấy hay, tôi bảo anh đàn lại, rồi chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đã hoàn tất ca khúc “Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình”.
Xuân Vũ viết tiếp: “Lữ Sinh khoái quá. Ngay hôm sau, anh đem bài hát ra tập cho trại sinh.”
Lời ca của bản nhạc như sau:
Làm sao khắp chúng dân đều tự do,
Làm sao khắp muôn dân đầy cơm áo?
Làm sao khắp thiên hạ hưởng hòa bình?
…………………………………………….
Vùng lên quyết tranh phần sống,
Tự do, hạnh phúc kia rồi.
Hòa bình, no ấm chào đón ta!”
Thế vì sao “Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình” không còn nữa? Đến 45 năm sau, câu chuyện mới được tiếp nối do bức thư của Xuân Vũ gởi cho Xuân Tước. Nhắc lại chuyện xưa lúc ở Trại Huấn Luyện Cồn Lớn, Xuân Tước là người điều khiển trại còn Xuân Vũ là một trại sinh thiếu nhi 16 tuổi. Năm 1992, lúc hai người đều sống đời tỵ nạn trên đất Mỹ, Xuân Vũ chép nguyên cả bài “Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình” gởi cho thầy mình là Xuân Tước với lời chua thêm như sau:
“Đây là bài hát phổ biến nhất Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và đã được Hà Nội dùng liên tục hơn 10 năm, đặc biệt làm nhạc hiệu cho buổi phát thanh vào Nam, nhưng không hề nhắc đến tên tác giả. Tồi bại hơn nữa, khi chúng cướp được miền Nam thì không dám phát thanh vì sợ cái mà chúng đòi Sài Gòn phải có thì bây giờ chính người Sài Gòn lại đòi chúng phải có cho họ, tức là Tự Do, Cơm Áo, Hòa Bình.”
Câu Chuyện “Sao Chú Không Chờ?”
Trong một buổi trà dư tữu hậu ở Sydney, một anh bạn giáo chức đồng nghiệp thuật cho tôi chuyện Sao Chú Không Chờ? mà đã 30 năm qua rồi tôi vẫn còn nhớ. Anh là người miền Bắc di cư, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, và được dạy tại một trường trung học ở Sài Gòn. Anh đang an cư lạc nghiệp thì xảy ra cơn Quốc Nạn 30-4-1975. Cả miền Nam hốt hoảng tìm cách vượt biên. Anh bạn người Bắc di cư của tôi may mắn có một mối tổ chức vượt biên đáng tin cậy. Đồng thời, anh gặp lại một người anh họ là một cán bộ cao cấp từ Hà Nội chuyển vào. Biết anh sẽ cùng gia đình vượt biên, người anh họ mới khuyên: “Sao chú không chờ một thời gian để xem chúng tôi làm việc ra sao đã. Nếu sau này mà thấy chúng tôi không làm được việc thì chú hãy đi.” Lẽ tất nhiên người bạn di cư của tôi vẫn tâm niệm câu nói trứ danh của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Việt Cộng nói mà hãy nhìn kỹ những gì Việt Cộng làm”, cho nên anh không nghe lời khuyên của người anh họ.
Anh bạn nhà giáo vượt biên thành công. Sau một thời gian ổn định nơi đất khách quê người, thì bốn đứa con của anh đều tốt nghiệp đại học: ba đứa là bác sĩ y khoa và một là nha sĩ. Nhắc lại lời khuyên của người anh họ, anh bạn của tôi cười hóm hỉnh: “Anh ấy bảo mình hãy chờ xem, nếu thấy các ổng không làm được việc, thì đến chừng đó mình hãy đi! Anh nghĩ coi, có lạ không! Nếu các ổng không làm được việc, thì các ổng phải đi chứ! Tại sao tôi phải đi! Té ra các ổng nghĩ rằng các ổng sẽ cầm quyền mãi mãi. Thôi thì mình đi cho được việc!”
Xin Đừng Chôn Tôi Gần Việt Cộng!
Người bạn giáo chức của tôi dẫn cả gia đình đi vượt biên, theo cách nói thời thượng, họ không chấp nhận chế độ nên đã Bỏ Phiếu Bằng Chân. Và có một dạo, ai ai ở Việt Nam cũng nói “nếu cột đèn đi được, thì chúng cũng đi rồi”. Sau ngày Quốc Nạn 30 tháng 4 năm 1975, Dân Tộc đã nếm mùi Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh, nên mới tiếc nhớ Những Ngày Tháng Năm Đẹp Của Thế Kỷ, quãng thời gian kể từ lúc Cựu Hoàng Bảo Đại về nước chấp chánh, qua Đệ Nhất Cộng Hòa với tổng thống Ngô Đình Diệm, đến Đệ Nhị Cộng Hòa với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu! Thời vàng son đã qua như giấc mộng đẹp! Đến thời đen tối sống dưới ách Cộng Sản khiến cho ai ai cũng muốn Bỏ Phiếu Bằng Chân. Riêng về Điệp viên Phạm Xuân Ẩn, người đã đóng góp cho ngành tình báo Việt Cộng, qua đời năm 2002, ông không Bỏ Phiếu Bằng Chân, ông để lại lời trối: “Xin đừng chôn tôi gần Việt Cộng!”
Trong tác phẩm Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế Độ Ngô Đình Diệm của Vĩnh Phúc, xuất bản năm 1998, tác giả có thuật chuyện điệp viên Việt cộng Phạm Xuân Ẩn đã ra tay cứu giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến, cựu giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị tại Phủ Tổng Thống. Ông Ẩn biết được địa điểm rước tỵ nạn bằng trực thăng cuối cùng vào đêm 29-4-1975, mới hối hả lấy xe Renault 4 ngựa của mình chở bác sĩ Tuyến đến nơi vừa kịp lúc.
Trong lần tái bản năm 2006, tác giả Vĩnh Phúc viết thêm (trang 516 sđd): “Sau này, ông Ẩn sống trong tâm trạng u uất và chán nản. Hẳn ông rất hối hận đã chọn lầm đường, đã đem hết khả năng thời trẻ phục vụ cho một lý tưởng mà ông đặt lầm chỗ.”
Chuyện 3D Của Giáo sư Phạm Thiều
Giáo sư Phạm Thiều là một vị giáo sư khả kính, người gốc Hà Tĩnh, dạy chữ nho và toán tại trường Trung học Trương Vĩnh Ký. Ông tham gia kháng chiến với chức Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Sài Gòn, rút ra khu từ tháng 9-1945, tập kết ra Bắc, rồi trở về Nam sau 30-4-1975. Đến năm 1986, ông treo cổ tự tử. Ông để lại cho đời Lời Phê Bình 3D (ba chữ D) về chế độ do Hồ Chí Minh xây dựng như sau:
“DỐT mà lãnh đạo nên làm dại. DẠI mà muốn thành tích nên báo cáo DỐI.
DẠI, DỐT, DỐI đó là ba điều làm cho các nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ, làm cho nước ta đi từ sai lầm này đến sai lầm khác.”
Trong tác phẩm Những Ngày Qua, bác sĩ Trần Ngươn Phiêu ghi lại Lời Phê Bình 3D trứ danh nói trên và cho biết cảm tưởng về cái chết đau thương của Giáo sư Phạm Thiều như sau (trang 182 sđd):
“Không hiểu có phải vì ông đã chán ngán cái cảnh thoái hóa, tham nhũng của cán bộ Cộng Sản sau 1975 hay vì ông nhận thức được cái sai trái của đường lối chủ nghĩa Cộng Sản của Stalin khiến làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa ở Trung Âu, nên ông đã ân hận và treo cổ tự tử.”
Cái chết của Giáo sư Phạm Thiều đầy bí ẩn. Nhưng nếu cảm tưởng của Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu về sự tự tử của Giáo sư Phạm Thiều là đúng thì chúng ta có thể kết luận rằng: Giáo sư Phạm Thiều ân hận vì thấy Dân Tộc bị ăn cái Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh, Giáo sư không Bỏ Phiếu Bằng Chân, Giáo sư đành bỏ phiếu bằng mạng sống của mình!
Lời Phát Biểu Của Nguyễn Hữu Thọ
Giáo sư Phạm Thiều bỏ phiếu “không ăn cái Bánh Vẽ Của HCM” bằng chính mạng sống của mình năm 1986, thì 2 năm sau đó, trong kỳ đại hội của Mặt Trận Tổ Quốc họp ở Sài Gòn ngày 25-9-1988, nổi lên nhiều tiếng nói phản đối Đảng như “Chính sách kinh tế xã hội của Đảng và nhà nước không phù hợp với thực tiển tình hình đất nước, thậm chí có khi đi ngược lại nguyện vọng và lợi ích của quần chúng”, “Đảng thay dân làm chủ”, và “Không lấy dân làm trọng mà lấy Đảng làm trọng”,.v.v…
Cũng tại đại hội trên, Nguyễn Hữu Thọ, lúc đó đang là Phó Chủ Tịch Hội Đồng Nhà Nước, đã vô cùng thất vọng trước tình trạnh dân chủ hình thức, dân chủ bánh vẽ của chế độ mà ông đã nhiều năm góp công xây dựng. Ông phát biểu:
“Nhân dân ai cũng thích cái bánh thật chứ chẳng ai thích cái bánh vẽ… Khuyết điểm lớn của chúng ta là chưa có dân chủ thật sự… Người dân chưa thật sự chọn lựa được những người lãnh đạo theo sự tín nhiệm của họ”.
Sự Phản Tỉnh Của Jean Paul Sartre
Jean Paul Sartre, triết gia hàng đầu của Pháp, là người đã từng ủng hộ phong trào Cộng Sản Thế Giới rất nhiệt thành. Trong lúc phong trào Cộng Sản lên đến cực thịnh tưởng chừng như sắp chinh phục cả thế giới đến nơi, ông cho rằng những người Chống Cộng là chướng ngại vật ngăn cản bước tiến hóa của nhân loại nên mới gọi họ là “Loài Chó Má” (tiếng Pháp “Chien”). Nhưng rồi nhân loại bàng hoàng khi khối Đông Âu và Liên Xô sụp đổ tan tành như lâu đài xây trên cát, để lại những trang sử vô cùng đen tối trong Lịch Sử loài người. Đến lúc đó, nhà triết gia Cộng Sản Jean Paul Sartre xoay đúng 180 độ, lần nầy ông lại dùng “Loài Chó Má” để gọi những kẻ Thân Cộng (tiếng Pháp “procommunists”)!
Bây giờ Jean Paul Sartre gọi những người Thân Cộng là “Loài Chó Má”, chỉ “Thân” thôi mà đã là “Chó Má” rồi, chúng ta không biết ông phải dùng từ gì để gọi những người Cộng Sản chính hiệu, nhất là những tên Việt Cộng. Bây giờ, chúng ta có cần phải viết thêm hay không? Xin hãy để cho Dân Tộc trả lời! Riêng người viết chỉ xin gọi họ là những “Kẻ Sáng Đảng Mà Mù Tình Dân Tộc, tức là những Kẻ Hết Lòng Trung Với Đảng mà Vô Cùng Bất Hiếu Với Dân”.
Con Đường “Bác” Đi: Từ Kominternchik… Đến Autocolonialist
Xin trở lại đề tài Vũ Hạnh và Cái Bánh Vẽ. Điều bất hạnh cho Dân Tộc Việt Nam là Cái Bánh Vẽ của Hồ Chí Minh lại quá đẹp, đẹp hơn cái bánh thật ngàn triệu lần, và không phải chỉ có một mình Vũ Hạnh muốn ăn bánh vẽ của Bác mà thôi mà có cả triệu triệu người Việt Nam cũng muốn ăn theo. Ôi! Cái Bánh Vẽ của Bác! Nhưng điều đại bất hạnh là trong khi Dân Tộc đang thưởng thức chiếc bánh thật thì Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản gây ra cuộc chiến tranh đánh Dân Tộc dài 30 năm, gây năm, sáu triệu người chết và cả chục triệu người bị thương tật ở hai bên chiến tuyến chỉ để cướp lấy cái bánh thật rồi phát cho Dân Tộc Cái Bánh Vẽ Của Bác. Cái bánh thật chỉ để dành cho Đảng. Ôi! Cái Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh, Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa Của Thế Giới Đại Đồng!
Đến bây giờ thì cái Bánh Vẽ Của Hồ Chí Minh đã nát ruỗng cả rồi và đã trở thành huyền thoại đau thương! Không còn ai muốn ăn cái bánh ấy nữa. Dân Tộc cũng không còn Bỏ Phiếu Bằng Chân nữa. Nhưng vì Đảng đã dồn Dân Tộc vào chân tường cho nên Dân Tộc phải đương đầu với Đảng thôi, không còn phương cách nào khác. Trong Mùa Bịt Miệng 2007, việc Dân Tộc đương đầu với Đảng cũng giống như chuyện Lấy Trứng Chọi Đá, chuyện Châu Chấu Đá Xe, chuyện Đội Đá Vá Trời. Nhưng Dân Tộc bị bịt miệng thì mắt lại sáng suốt vô cùng để thấy rất rõ rằng Con Đường “Bác” Đi chỉ là Con Đường Bi Đát, bởi lẽ “Bác” đã đi theo Cuộc Cách Mạng Đã Bị Phản Bội. Trên Con Đường Bi Đát đó, Hồ Chí Minh đã khởi hành ở điểm Quốc Tế Ủy Kominternchik để cuối cùng dìu dắt Băng Đảng thành những tên Thực Dân Lô Canh hay Thực Dân Bản Địa Autocolonialists, như Jean Lacouture đã gọi.
Xin mở dấu ngoặc, Jean Lacouture là sử gia Pháp đã một thời hết lòng ủng hộ và ca ngợi Hồ Chí Minh, nhưng sau cùng ông cũng đành hạ bút viết rằng Kẻ Chiến Thắng đã xây dựng được Chế Độ Autocolonialisme, một từ mới do ông chế tác. Theo văn phong của ông, ta có thể hiểu đó là Chế Độ Thực Dân không phải do người Pháp cai trị như ngày xưa mà là Chế Độ Thực Dân Tự Quản hay “Lô Canh”. Có một vài nhà bình luận đã dùng chữ “Nội Xâm” để diễn tả ý tương tự như vậy. Theo một cách diễn tả rõ ràng hơn, ta có thể nói trong Cuộc Chiến Tranh Của Hồ Chí Minh Đánh Dân Tộc, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chiến thắng Dân Tộc và đã xâm chiếm Đất Nước làm Thuộc Địa của riêng mình, biến Dân Tộc thành Nô Lệ cho Đảng, và Đảng đã trở thành Thực Dân Lô Canh y hệt như Thực Dân Pháp ngày xưa!
Sử gia Pháp Jean Lacouture không còn ca ngợi Hồ Chí Minh như xưa nữa, cho nên khi ông chế tác danh từ mới Autocolonialisme, tức là Chế Độ Thực Dân Lô Canh, hẳn ông ngụ ý Chế Độ Thực Dân Lô Canh mà Hồ Chí Minh thiết lập cũng không khác gì Chế Độ Thực Dân Pháp thời Pháp Thuộc ngày xưa. Nhưng Dân Tộc Việt Nam thì biết không phải vậy. Chế độ Thực Dân Lô Canh, tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ Chí Minh, tức Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa của Lê Duẩn, khi so sánh với Chế Độ Pháp Thuộc ngày xưa thì ĐỘC ÁC, THAM TÀN, BẦN TIỆN, GIAN XẢO, MA GIÁO, QUỶ QUYỆT, KHÁT MÁU hơn gấp nghìn gấp triệu lần.
Đảng Phải Trả Tự Do Nhân Quyền Cho Người Sống, Trả Linh Quyền Cho Người Chết, Và Trả Đất Nước Cho Dân Tộc
Bởi lẽ đó, việc Dân Tộc đương đầu với Đảng trong Mùa Bịt Miệng 2007 tưởng rằng khó mà lại hóa thành dễ vô cùng. Dễ là vì trong hàng ngủ của Đảng Cộng Sản bây giờ, không còn những vị yêu nước thương dân như Cựu Tướng Trần Độ của thuở nào, mà chỉ còn toàn là những Quan Chức Đỏ Cộng Sản rất Sáng Đảng Mà Mù Tình Dân Tộc. Họ cũng tham ô, tàn bạo, khát máu như những Thái Thú Tàu Tô Định, Thoát Hoan, Trương Phụ, Tôn Sĩ Nghị, hay như những tên Pháp xâm lược Henri Rivière, Rigault De Genouilly. Dân Tộc chỉ cần trở về với truyền thống chống ngoại xâm thời Bắc thuộc dài một ngàn năm, hoặc lịch sử một trăm năm chống Giặc Pháp xâm lược là được việc. Truyền Thống Chống Giặc Ngoại Xâm, Sở Trường Của Dân Tộc.
Nhưng thực sự không dễ dàng, công cuộc Dân Tộc đương đầu với Đảng Cộng Sản để dành lấy “Nhân Quyền Cho Người Sống Và Linh Quyền Cho Người Chết” như lời của Hòa Thượng Thích Huyền Quang. Công cuộc Dân Tộc đứng lên để dành Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc và đòi lại Đất Nước cho mình thực sự không dễ dàng bởi lẽ Đảng đã quá ma giáo, quỷ quyệt, và khát máu sau hơn nửa thế kỷ kinh nghiệm độc tài đảng trị. Bây giờ Đảng đã có trong tay vô số công an, quá dư thừa để cho công an mặc thường phục giả làm dân phụ lực với công an mặc sắc phục. Đảng lại quá dư tiền để mướn bọn du đảng đầu trộm đuôi cướp tức là xã hội đen giả làm đầu gấu uy hiếp bằng võ lực những vị tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ, nếu cần thì giết người diệt khẩu, vì thế nên có thêm từ mới là xã hội đỏ. Đảng lại có ngón nghề Bắt Nguội, như vụ Thái Bình Khởi Nghĩa, Đảng chờ đợi cho sự việc tranh đấu lắng dịu và ra lịnh cho công an vào nhà ban đêm bắt những người lãnh đạo đem đi thủ tiêu. Đảng lại “theo thói phụ nữ đánh ghen” dùng ác-xít tạt vào nhà như vụ khủng bố người con gái ông Hoàng Minh Chính, Đảng xử dụng những cách giết người bịt miệng bằng những tai nạn giao thông theo chiêu thức “ném đá dấu tay”, hoặc bằng cách dùng độc dược trộn vào thức ăn cho các tù nhân. Đảng lại có sáng kiến chưa từng thấy trong bất cứ quốc gia dân chủ nào là muốn xoá án tích nên không dùng chứng từ án lịnh mà chỉ dùng khẩu lịnh cho công an trong việc đàn áp các nhà đấu tranh dân chủ dân quyền.
Khi Cựu tướng Trần Độ bị khai trừ ra khỏi đảng và viết Nhật Ký Rồng Rắn, khi cựu Đại tá Bùi Tín và cựu Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội Nguyễn Minh Cần trở thành những chiến sĩ kiệt xuất tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ cho Dân Tộc, khi nhà văn Vũ Thư Hiên để hết tâm trí hoàn thành quyển Đêm Giữa Ban Ngày để trao cho các thế hệ tương lai, khi nữ sĩ Dương Thu Hương khóc cho thành phố Sài Gòn vừa bị mất tên và viết bài “Là Để Ỉa Vào Mặt Kẻ Cầm Quyền” thì cái Đảng Cộng Sản do Hồ Chí Minh thành lập không còn là cái gì cả. Xin lập lại: Cái Đảng Cộng Sản Do Hồ Chí Minh Thành Lập Không Còn Là Cái Gì Cả!
Chủng Loại Homo Sovieticus Trên Đất Việt
Đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh thành lập và xây dựng, trong hơn gần một thế kỷ nay, đã thụt lùi xuống tới mức tàn ác gian xảo đê tiện hèn hạ tận cùng của Loài Người, loài Homo Sovieticus, một Giống Người Mới xuất hiện từ tháng 10 năm 1917 ở Nga. Xin ghi chú: từ “Homo Sovieticus” rất phổ biến vào thập niên 1980. Nguyên thủy, từ đó dùng để chỉ một chủng loại mới của loài người đột sinh dưới chế độ cai trị khắc nghiệt của Stalin. Chủng loại đó, tức là người dân Nga nghèo khổ, phải mánh mung, lương lẹo, gian trá mới sống còn trong môi trường chính trị của Stalin. Tác giả Aleksandr Zinoviev đã viết quyển Gomo Soveticus được dịch ra tiếng Anh năm 1985. Ở đây, người viết xin được dùng từ Homo Sovieticus trái ngược với ý nguyên thủy để chỉ những cán bộ, những công an, những cốt cán CCRĐ năm nào, tất cả là những Cây Người Hồ Chí Minh đã trồng trên đất Việt, sau khi đã đào tận gốc trốc tận rễ Trí Phú Địa Hào, thì biến thành những Quan Chức Đỏ, cai trị Đất Nước bằng Luật Rừng Xanh.
Loài Homo Sovieticus phát sinh từ đất Nga rồi lại bị diệt chủng ngay trên đất nước Nga. Nhưng than ôi! Chủng loại Homo Sovieticus ác độc đó do Hồ Chí Minh (hay Hồ Xít Mao) mang về vẫn còn tồn tại trên đất Việt thân yêu của chúng ta! Đó là những kẻ Sáng Đảng Mà Mù Tình Dân Tộc! Đó là những kẻ Hết Lòng Trung Với Đảng mà VÔ CÙNG BẤT HIẾU VỚI DÂN!
Viết tại Sydney, Úc Đại Lợi
Mùa Bịt Miệng 2007
Nhóm Tâm Việt Sydney
Subscribe to:
Posts (Atom)