Chuyện Hồ Chí Minh Là Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới?
Vỡ bi hài kịch có ba vai. Vai thứ nhất là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Vai thứ hai là Cơ Quan UNESCO của Liên Hiệp Quốc. Vai thứ ba cũng là vai chính là Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn khắp nơi trên thế giới, chính yếu là ở Pháp, và đại diện cho cả Dân Tộc trên 80 triệu người. Vỡ kịch có hậu vì đã đem thắng lợi về cho Dân Tộc. Đảng Cộng Sản Việt Nam thất bại vì Chủ Tịch Hồ Chí Minh không được Liên Hiệp Quốc tôn vinh là “Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới”!
Màn Thứ Nhất: Do sự vận động của Đảng Cộng Sản ở Hà Nội, với sự tiếp tay của vài nước XHCN ở Đông Âu, vào tháng 11 năm 1987 Cơ Quan UNESCO của Liên Hiệp Quốc biểu quyết sẽ làm Lễ Tưởng Niệm và Vinh Danh Hồ Chí Minh như một Nhà Văn Hóa Thế Giới nhân dịp kỷ niệm ngày sinh nhật lần thứ 100 của ông. Buổi lễ dự trù vào ngày 12-5-1990 tại Trụ Sở UNESCO của Liên Hiệp Quốc đặt tại số 7, Place đe Fonteney, Paris.
Màn Thứ Hai: Xuất hiện vai chính là Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn ở Paris. Ủy Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ Chí Minh được thành lập ở Paris, là nơi đặt trụ sở của UNESCO. Tổng thơ ký Ủy Ban là Tiến Sĩ Nguyễn Văn Trần. Ủy Ban tích cực vận động người Việt và các báo Việt ngữ hải ngoại viết thư cho UNESCO vạch trần tội ác của Hồ Chí Minh. Ở Pháp, nhóm Đường Mới gồm 10 học giả có uy tín (7 Việt, 2 Hoa Kỳ, và 1 Pháp) đã xuất bản và phát hành quyển Hồ Chí Minh, Sự Thật Về Thân Thế Và Sự Nghiệp bằng ba thứ tiếng Việt, Pháp, và Anh. Ở Úc Châu, nhà mô phạm và nhà báo Nguyễn Thuyên phát hành quyển Bộ Mặt Thật Của Hồ Chí Minh trước Tòa Đại Sứ Việt Cộng tại Canberra đúng ngay ngày Quốc Hận 30-4-1990 (Quyển sách là tổng kết loạt bài “Vạch Mặt Hồ Chí Minh” viết từ năm 1987 đăng trên tuần báo Chuông Saigon). Những quyển sách đó đã góp phần rất lớn chứng minh Hồ Chí Minh là Tội Đồ của Dân Tộc. Giáo sư Lê Hữu Mục với tác phẩm Hồ Chí Minh Không Phải Là Tác Giả Ngục Trung Nhật Ký đã chứng minh Hồ Chí Minh đạo văn của một người bạn tù.
Vào thời điểm đó, số thuyền nhân vượt biển tìm tự do đã lên đến con số chín trăm ngàn, không kể những người tử nạn trên biển cả. Rồi Bức Tường Ô Nhục Bá Linh sụp đổ: Tường Nhân Đông Đức theo gương Thuyền Nhân Việt Nam đổ xô tìm tự do ở phương Tây.
Cơ Quan UNESCO, với tân Giám Đốc là Frederico Mayor người Tây Ban Nha, cứu xét những sự việc kể trên và quyết định hủy bỏ việc đề cử Hồ Chí Minh vào “Danh Sách Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới”. UNESCO chỉ thuận cho Đảng Cộng Sản thuê một phòng tại trụ sở để trình diễn văn nghệ với điều kiện buổi trình diễn KHÔNG ĐƯỢC TREO HÌNH HỒ CHÍ MINH và không được tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh đã được UNESCO nhìn nhận là Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới.
Màn Thứ Ba: Đến đây xuất hiện kỹ sư Phương Nam Đỗ Nam Hải, một khuôn mặt trẻ kiệt xuất tranh đấu cho tự do, dân chủ, và nhân quyền. Trong bài Viết Về Chủ Tịch Hồ Chí Minh (Quyển Hãy Trưng Cầu Dân Ý, bài viết năm 2001, sách xuất bản năm 2005, trang 177), tác giả Phương Nam đã lật tẫy bộ mặt dối trá của Đảng Cộng Sản. Hồ Chí Minh không được Liên Hiệp Quốc vinh danh gì cả, cả thế giới đều biết như vậy. Thế nhưng Đảng vẫn viết tài liệu giáo khoa dối trá, dạy cho học sinh lớp 7 rằng vào năm 1990, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Hồ Chủ Tịch, Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học, Và Văn Hóa của Liên Hiệp Quốc, tức UNESCO, đã ra một nghị quyết công nhận ông là Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới! Phương Nam dẫn chứng rằng trong tài liệu Giáo Dục Công Dân dạy học sinh lớp 7 (Nhà Xuất Bản Giáo Dục năm 1997, trang 53) có một bài đọc thêm nhan đề Tinh Hoa Của Dân Tộc Việt Nam Góp Phần Vào Tinh Hoa Thế Giới, trong có đoạn:
“Chủ Tịch Hồ Chí Minh là một hiện tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng cho nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, dân chủ, và tiến bộ”.
“Trích Nghị Quyết UNESCO, sách đã dẫn”
Sách giáo khoa dạy học sinh lớp 7 mà đã láo lếu như vậy, cho đến Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Dy Niên cũng lếu láo nói không thành có! Ông nguyên là Chủ Tịch Ủy Ban UNESCO Việt Nam, vào tháng 5 năm 2000, cũng viết bài ca ngợi Chủ Tịch Hồ Chí Minh là Danh Nhân Văn Hóa Của Nhân Loại! Đảng Cộng Sản không muốn cho Dân Tộc biết sự thật Hồ Chí Minh không hề được UNESCO của Liên Hiệp Quốc công nhận là Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới. Sự thật đó là điều cấm kỵ! Tại Sao? Phải chăng Đảng đã xô Dân Tộc xuống giếng sâu, và Đảng chỉ muốn Dân Tộc cứ ở mãi dưới đáy giếng, để khi nhìn lên chỉ thấy Mảnh Trời Huyền Thoại Đẹp về Hồ Chí Minh mà thôi!
Đảng Tìm Cách Bảo Vệ Thần Tượng Của Mình
Ướp xác xây lăng cho Hồ Chí Minh chưa đủ, Đảng còn tìm cách bảo vệ thần tượng của mình. Đến bây giờ là Mùa Bịt Miệng 2007, khi đám “Mây Mù Thế Kỷ” bị trận bão Chân Lý Lịch Sử thổi bay đi, lá bài Hồ Chí Minh đã bị lật tẫy. Từ địa vị Cha Già Dân Tộc, ông bỗng rớt xuống thành nhân vật gian xảo, độc ác, đểu cáng, và khát máu nhất từ cổ chí kim, đã đánh phá giết hại Dân Tộc tan tành và làm cho Đất Nước “nghèo, nghèo, nghèo”! Đó là lối viết như nói chuyện của Nguyễn Văn Trấn, người đã từng tập kết ra Bắc theo Hồ Chí Minh, đến khi về Nam đã mở mắt và đã than “nghèo” như vậy (Trong quyển Viết Cho Mẹ & Quốc Hội). Hồ Chí Minh là tội đồ của Dân Tộc Việt Nam, phạm đủ thứ tội, nhưng làm đất nước nghèo chỉ là quản lý yếu kém về kinh tế và không bài trừ được tham nhũng, Tội Lớn Nhất của ông là TỘI PHẢN QUỐC BÁN NƯỚC CHO NGOẠI BANG!
Khi chế độ Liên Xô sụp đổ, các kho lưu trữ tài liệu tuyệt mật về Quốc Tế Cộng Sản ở nước Nga được mở cửa cho công chúng vào tham khảo. Trong tác phẩm Mây Mù Thế Kỷ, tác giả Bùi Tín đã viết về sự nghiên cứu và phát giác của bà Quinn-Judge, người mà ông thân mật gọi là “Chị Ba Sophia” (trang 135): “Bạn tôi ở Mát-xco-va cho biết, sau khi bà Quin-Giớt (Quinn-Judge) tiết lộ tài liệu lưu trữ về quan hệ vợ chồng giữa ông Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Minh Khai, đã có một số nhà nghiên cứu (hoặc an ninh mật đội lốt nhà nghiên cứu?) từ Việt Nam sang đến kho lưu trữ để tìm cách lấy đi (lén bỏ vào túi?) hoặc mua (với giá cao bằng đô la) một số tài liệu “nhạy cảm nhất”.
Trong lá thư viết từ Paris gởi cho Bán Tuần Báo Việt Luận (số ra ngày 23-5-2008), thông tín viên Nguyễn Thị Cỏ May, trong mục Paris Có Gì Lạ Không Em, cũng như Bùi Tín, đã viết về quái chiêu “thủ tiêu tài liệu” của Đảng Cộng Sản như sau: “Trong một chương trình phát thanh thường lệ, đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp RFI có loan tin Trung Tâm Văn Khố Mạc Tư Khoa hỏi xin bà Quinn-Judge một phóng ảnh bản tài liệu về Hồ Chí Minh mà bà đã tìm được trong văn khố vì khi nhân viên sắp xếp lại thấy mất bản văn ấy. Trung tâm nhớ lại, sau khi bà Quinn-Judge rời khỏi Trung Tâm, chỉ có một phái đoàn Hà Nội, gồm nhiều công an, đến Trung Tâm xin vào tham khảo tài liệu”.
Chúng ta cũng như Bùi Tín và Cỏ May có thể tin được Phái Đoàn Hà Nội (gồm nhiều công an!) là thủ phạm ăn cắp tài liệu ở Văn Khố Nga như bản tin RFI loan tải. Việc nầy không mới mẻ gì. Chủ Tịch Hồ Chí Minh gian xảo thì làm sao thành lập Đảng Cộng Sản lương thiện cho được! Chủ (tịch) nào, Đảng nấy mà! Theo tác giả Bùi Tín thì sau đó “một cán bộ quản thủ Văn Khố lâu năm là Vladimir Chernous bị sa thải vì tham nhũng” và Văn Khố được củng cố và tạm thời đình chỉ việc cho người nước ngoài vào khai thác tài liệu.
Để Ôn Cố Tri Tân: Chuyện Ông Tô Hiến Thành
Như một thí sinh bị đánh rớt vì học lực kém cỏi, Hồ Chí Minh không được vinh danh là Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới vì ông nào có sự nghiệp gì trong phạm vi văn hóa đâu để được bình bầu. Dù Đảng Cộng Sản cố gắng tô hồng chuốc lục cho ông, ông vẫn bị loại, ông bị đánh rớt về mặt văn hóa. Bây giờ, ta thử tìm hiểu xem trong địa hạt chính trị, Hồ Chí Minh được đánh giá cao hay thấp. Ông có phải là chính trị gia tài ba hay không? Muốn vậy, ta phải xem xét cách dùng người của ông. Có một chuyện cổ rất lý thú về phép dùng người truyền tụng từ đời nhà Lý và được ghi chép lại trong quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ đẳng trường Tiểu học ngày xưa, tức là Lớp Ba trường Cấp Một bây giờ. Đó là chuyện Ông Tô Hiến Thành. Câu chuyện xưa để ôn cố tri tân như sau (trang 75 sđd):
“Ông làm quan về cuối đời nhà Lý. Tính người trầm trọng, cẩn thận, tài kiêm văn võ. Làm tướng đi đánh giặc, thì thương yêu sĩ tốt, bênh vực dân sự, đánh đâu được đấy, quân giặc nghe tiếng đều phải kinh sợ. Làm quan, thì lo sửa sang việc chính trị, mở mang sự học hành, trừ bỏ những kẻ gian nịnh. Bao giờ ông cũng quên mình mà lo việc nước”.
“Khi vua mất, ông làm phụ chính giúp tự quân hãy còn thơ ấu. Bấy giờ có một bà Thái hậu muốn bỏ tự quân mà lập con mình, cho người đem vàng bạc đút lót cho ông. Ông nhất định không nghe, cứ một niềm giữ lòng trung thành, hết sức giúp ấu chúa, theo lời dặn của tiên quân”.
“Đến khi ông bệnh nặng, có người Võ Tán Đường đêm ngày chầu chực hầu hạ, có ý muốn ông cử mình lên thay. Nhưng đến khi bà Hoàng Thái hậu đến thăm, hỏi ai có thể thay được ông. Ông cử quan đại phu Trần Trung Tá. Bà Thái hậu ngạc nhiên hỏi sao ông không cử Võ Tán Đường? Ông tâu rằng: “Nếu ngài hỏi người hầu hạ, thì tôi xin cử Võ Tán Đường, nhưng hỏi người giúp nước, thì xin cử Trần Trung Tá.”
“Ông trung thành như thế, và lại tài giỏi hơn người, cho nên đời sau ai cũng kính phục và thường ví ông với ông Gia Cát Lượng bên Tàu”.
Chuyện Trần Quốc Hoàn Và Nguyễn Mạnh Tường
Câu chuyện xưa xảy ra dưới triều vua Lý Cao Tông (1176–1210), mãi cho đến năm 1945 khi Hồ Chí Minh và phe đảng của ông cướp chính quyền ở Hà Nội, thì trên 700 năm dài đã trôi qua. Đọc chuyện xưa để biết phép dùng người thật vô cùng quan trọng nhất là khi liên quan đến quốc sự và việc trị nước. Nếu ông Tô Hiến Thành được người đời truyền tụng và ví ông như vị quân sư tài ba đời Tam Quốc là Khổng Minh Gia Cát Lượng, thì đời nay, qua cách dùng người của Hồ Chí Minh, chúng ta chỉ có thể gọi ông là Con Vẹt của Stalin mà thôi. Hồ Chí Minh đã xây dựng Đảng Cộng Sản theo khuôn mẫu Liên Xô và điều hành Đảng để đánh Dân Tộc vô cùng khắc nghiệt. Trong cuộc chiến tranh bẩn thỉu đó, Dân Tộc đã đại bại dưới tay Hồ Chí Minh, trên khắp các mặt trận, nhất là trên mặt trận văn hoá.
Hồ Chí Minh đã từng đến Liên Xô và Trung Quốc nhiều lần. Đi ngang qua đất Tàu, Bác Hồ nhà ta gặp Mao Trạch Đông và nghe Bác Mao nói “Trí Thức Không Bằng Cục Phân” thì Bác Hồ mừng rỡ như bắt được vàng, bèn lấy bỏ vào “Cẩm Nang Kách Mệnh” mang về nước. Đến khi thực thi Đấu Tranh Giai Cấp trong biến cố Xô Viết Nghệ Tĩnh và trong chiến dịch CCRĐ, tư tưởng “Trí thức không bằng cục phân” thật vô cùng tiện dụng vì Trí thức là giai cấp hàng đầu Hồ Chí Minh phải triệt hạ như trong khẩu hiệu “Trí Phú Địa Hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Trong việc tổ chức Đảng và Nhà Nước, Bác Hồ lại càng áp dụng thật nhuần nhuyễn tư tưởng của Bác Mao xem “Trí thức không bằng cục phân”. Câu chuyện Trần Quốc Hoàn và Nguyễn Mạnh Tường là một dẫn chứng hùng hồn.
Trần Quốc Hoàn tên thật là Nguyễn Trọng Cảnh, thường được gọi là “Cảnh con”, chỉ học đến lớp “Preparatoire” (“Lớp Dự Bị” tức là Lớp Hai trường Cấp Một bây giờ) thì bị đuổi học vì hạnh kiểm xấu. Trong quyển Đêm Giữa Ban Ngày, tác giả Vũ Thư Hiên viết (trang 598): “Từ đó, Cảnh con lêu lỏng như một con mèo hoang, nhà nào sơ hở là nó lẻn vào, cuỗm của họ từ cái quần lót cho tới cái nồi đồng. Bị bắt, bị đánh, năm ngày ba trận, nhưng nó vẫn chứng nào tật nấy, càng ngày càng lì, càng trở nên bất trị”. Cho nên Cảnh con trở thành gánh nặng cho gia đình và thôn xóm, không còn ai có thể chịu nổi nữa. Đến khi có người mộ phu sang Lào, viên thôn trưởng “liền hớn hở giao ngay thằng ăn cắp oắt con cho họ”.
Rồi Cảnh con trở thành phu đãi vàng ở Lào. Sau một thời gian, Cảnh con trốn khỏi đất Lào về Hải Dương đi theo một đám cướp. Vì nhát gan nên bị chúng đuổi, Cảnh con mới bò về Hà Nội, nhập vào đám móc túi, giật dọc, rồi lại xin nhập vào đám tiểu yêu cầm cờ đám ma, dưới trướng một tên anh chị ở phố Hàng Chợ Gạo. Cầm cờ đám ma cũng bữa đói bữa no, vì không phải ngày nào cũng có đám ma nhà giàu đủ tiền trả công, mà lại còn phải tranh giành với băng chợ Đồng Xuân và những băng khác. Sau cùng, Cảnh con xin được chân sắp chữ ở nhà in Tân Dân. Nhưng chứng nào tật nấy, gặp lúc hợp kim antimoine dùng để đúc chữ chì lên giá, Cảnh con liền ăn cắp chữ in đem bán. Ăn cắp một ký lô chữ in bán được 6 đồng còn cầm cờ đám ma thì phải 20 đến 30 đám mới được. Rồi Cảnh con bị bắt quả tang trong lúc trên vai còn mang cả bị chữ in.
Phần tiểu sử thời thơ ấu của Trần Quốc Hoàn là do Nguyễn Tạo thuật lại, ông từng là Phó Tổng Giám Đốc Nha Công An, thời ông Lê Giản là Tổng Giám Đốc. Tác giả Vũ Thư Hiên chép lại cùng với lời thuật của cha ông thành Chương 34 trong đại tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày (từ trang 591 đến 609). Vũ Thư Hiên viết tiếp: “Không biết được ai mách giúp bảo dùm mà thằng ăn cắp chữ in liền khai với Sở Liêm Phóng rằng hắn là nhà ái quốc, chữ in hắn lấy là để cho các tổ chức cách mạng in báo, in truyền đơn… Thế mà hắn được đưa sang bên tù chánh trị, mới lạ”.
Trong nhà tù Sơn La, Trần Quốc Hoàn được Lê Đức Thọ móc nối và gia nhập Đảng năm 1934, Trường Chinh tán thành. Người mà nhân cách như vậy lại được Hồ Chí Minh cất nhấc lên làm Bộ Trưởng Công An, và đã nắm Bộ Công An trong 27 năm dài, từ 1953 đến 1980. Vũ Thư Hiên thuật rằng đến khoảng đầu những năm 60, Trần Quốc Hoàn bỗng nổi bật lên như một tên Mao-ít cuồng nhiệt, một hung thần xã hội chủ nghĩa. Hoàn được gán cho biệt hiệu “Béria của Việt Nam” (ghi chú: Béria là trùm mật vụ KGB của Stalin).
Cha của Vũ Thư Hiên là ông Vũ Đình Huỳnh, đã ngồi tù chung với Trần Quốc Hoàn ở Sơn La, đã có nhận xét như sau (trang 593 sđd): “Béria dù sao cũng còn là một hạ sĩ quan trong quân đội Nga Hoàng, còn có học đôi chút, chứ Trần Quốc Hoàn thì hoàn toàn vô học. Hồi Sơn La anh em tù nhận xét hắn tham ăn tục uống, đã thế lại có tính tắt mắt… Hắn tiểu nhân, mà đó là một tư chất đáng sợ. Hắn chấp nhặt lắm đấy. Và không từ việc gì không dám làm.”
Nhân sự Bộ Công An của Hồ Chí Minh khởi đầu như thế đấy, cho nên từ ngày Trần Quốc Hoàn lên làm Bộ Trưởng thì trên miền Bắc không có mấy gia đình không có người thân trong gia tộc ở tù. Viên phụ tá đắc lực của Trần Quốc Hoàn, dưới nét phác họa của Vũ Thư Hiên như sau (trang 596 sđd): “Thứ trưởng Lê Quốc Thân được người ta biết đến như một tên bất nhân. Trần Quốc Hoàn còn học được vài đường đạo đức giả ở đàn anh Lê Đức Thọ, chứ Lê Quốc Thân ngu độn chỉ biết kêu gọi dùng bàn tay sắt. Được Đảng tâng bốc là thanh kiếm và lá chắn chiến đấu vì sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, ngành công an Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Trần Quốc Hoàn và Lê Quốc Thân nhanh chóng trở thành một đạo kiêu binh. Đến nỗi, những cán bộ công an có công tâm phải thốt lên “Cái sự coi mỗi công dân là một tù nhân dự khuyết mở đầu cho một thời đại khốn nạn. Rồi đây chúng ta sẽ phải trả giá cho sự thất nhân tâm này.” (Vũ Thư Hiên chú thích: “Kiếm và Mộc” là biểu tượng của ngành công an Liên Xô).
Trong khi đó, một người thật yêu nước và thật trí thức là Nguyễn Mạnh Tường thì lại bị chế độ trù dập. Xin nhắc lại: Nguyễn Mạnh Tường đậu tú tài năm 16 tuổi ở Hà Nội và sang Pháp du học ở đại học Montpellier. Năm 1932, lúc 22 tuổi, ông đậu một lượt hai bằng Tiến sĩ Luật và Tiến sĩ Văn chương. Luận án Luật của ông được Chánh Chủ Khảo phê thật đẹp như sau (Trích bài Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Đã Qua Đời của Võ Văn Ái viết ở Paris năm 1997):
“Luận án của Nguyễn Mạnh Tường là một kiệt tác luật, hơn thế nữa nó là một kiệt tác luật và văn chương. Ông thành công trong hai phân khoa của Viện Đại Học Montpellier. Tiến sĩ Luật năm 22 tuổi, ông cũng sắp trở thành tiến sĩ Văn chương, đó thật là một kỷ lục, vì ở Pháp chưa ai đậu tiến sĩ Văn chương năm 22 tuổi. Ông làm cho toàn thể trường Luật hãnh diện. Chúng tôi cấp cho ông hạng cao nhất của chúng tôi: Ưu Hạng Với Lời Khen Ngợi Của Giám Khảo"
Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường tham gia cuộc Kháng Chiến Chống Pháp. Thời gian sau chiến thắng Điện Biên Phủ, chính phủ Hồ Chí Minh về tiếp quản Hà Nội, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường đạt tới đỉnh cao danh vọng, ông được giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Khoa trưởng Đại Học Luật Khoa, Thủ lãnh Luật sư đoàn, Phó khoa trưởng Đại học Sư phạm, v.v…
Đến Đợt Sửa Sai sau cuộc CCRĐ, với tinh thần thượng tôn pháp luật và tánh trung ngôn bản thiện, ông đã viết một bài phê bình thật dài “Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất Xây Dựng Quan Điểm Lãnh Đạo” (Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, tác giả Mạc Định Hoàng Văn Chí, trang 404-432). Bài phê bình của ông đọc trong cuộc họp của Mặt Trận Tổ Quốc tại Hà Nội ngày 10-10-1956 nhắm vào “xây dựng quan điểm lãnh đạo” đã gây tác dụng “đàn khẩy tai trâu, sóng chao đầu vịt” như dân gian thường nói. Bởi lẽ “lãnh đạo” thuộc phạm vi độc tài độc tôn của Hồ Chí Minh, nên bài viết đầy tâm huyết đó không xây dựng được gì cả mà chỉ làm cho tác giả bị đấu tố tất cả ba lần, bị truất hết các chức vụ, và bị trù dập suốt quảng đời còn lại.
Không còn được dạy ở Đại học, trong chế độ hộ khẩu tem phiếu khắc nghiệt của Hồ Chí Minh, những ngày còn lại của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường là nghèo, nghèo, nghèo và đói, đói, và đói. Ông phải đem bán những khăn trải bàn, bán những dĩa nhạc Tây Phương ông đã sưu tầm, và nhất là cân ký lô bộ sách luật quý giá bán làm giấy gói hàng. Con người tài hoa có bằng Tiến sĩ Văn chương Pháp ấy muốn mở lớp riêng dạy tiếng Pháp tại nhà, tất cả phụ huynh với tâm ý “chọn mặt gởi vàng” đều ao ước gởi con em mình đến học. Nhưng khốn thay, công an của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đến từng nhà của các phụ huynh đó hăm doạ và ngăn cấm, nên lớp học không có học trò! (Trích Việt Nam Cần Đổi Mới Thật Sự, tác giả Tiến sĩ Kinh tế Võ Nhơn Trí, trang 138). Câu chuyện thêm phần bi thảm: Tiến sĩ Tường có nuôi một con chó, nó rất mến chủ, nhưng vì nhà không có thức ăn, nên chó đành phải bỏ đi, mắt rướm lệ nhìn chủ nhân cũng bị đói như mình!
Trong quyển Bên Dòng Sông Hát, quyển lịch sử 10 đời của dòng họ Nguyễn làng Kim Bài, tác giả Tiến sĩ Nguyễn Triệu Đan đã viết vài hàng thật đẹp về “Nghề Làm Thầy” ở nước ta ngày xưa (trang 268 sđd): “Vùng quê tôi nhiều làng có trường học, ít thì một cái, nhiều như Kim Bài thì ba bốn cái. Thầy giáo có thể là quan chức hồi hưu, nhà nho khoa bảng hay người không có bằng cũng được. (Xin chú thích: vì “học tài thi phận” cho nên có người thi mãi không đậu tuy học rất giỏi, xứng đáng được làm thầy). Thể lệ rộng rãi cho phép cả người thi đỗ song vì phản đối chính sách của triều đình, nên không chịu ra làm quan, hoặc người làm quan phạm lỗi bị cách chức, cũng có thể ngồi dạy học.”
Tiến sĩ Nguyễn Triệu Đan viết tiếp về Nghề Làm Thầy: “Hồi đó, chẳng mấy khi trò phải trả tiền học. Thường chỉ biếu thầy con gà, thúng gạo, nải chuối vào những dịp tết nhất là đủ. Tổ nhà tôi được cái may là có của cải ruộng nương nên không phải sống bằng nghề dạy học. Mở trường để có việc làm cho vui và vì theo truyền thống Khổng giáo thì giáo hóa bọn hậu sinh là bổn phận của nhà nho.”
Đọc chuyện xưa để suy chuyện thời Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ Chí Minh. Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, sau khi bị truất hết các chức Khoa trưởng, Phó khoa trưởng, v.v… ông muốn lui về “Nghề Làm Thầy” theo truyền thống ở nước ta ngày xưa cũng không được với Hồ Chí Minh và Trần Quốc Hoàn! Trong cảnh nghèo đói cùng cực của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, vang vọng “danh ngôn” của các Lãnh tụ từ Nga Hoa dội về qua vai trò “Con Vẹt Hồ Chí Minh”. Lenin nói: “Ai không làm thì không ăn”. Lời Lenin chưa được hay, Stalin chỉnh lại và nói: “Ai không đầu hàng thì không ăn”. Xin nhắc lại Bác Hồ đã từng nói: “Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể nào sai được”. Bởi thế cho nên cả hai câu của Bác Xít và của Bác Mao “Ai không đầu hàng thì không ăn”, và “Trí thức không bằng cục phân” được Bác Hồ áp dụng thật nhuần nhuyễn để “đào trốc” nhà đại trí thức yêu nước mà bất hạnh Nguyễn Mạnh Tường. Bác là người ưa thích bí danh, ẩn danh, nặc danh, mạo danh… và chính Bác cũng thú nhận như vậy, thiết nghĩ, nếu tặng cho Bác thêm hỗn danh “Hồ Xít Mao” thì thật không quá đáng! Và cũng rất thích đáng! Tác giả Ngô Nhân Dụng trong bài Chính Là Bác Mao có trích hai câu thơ của Chế Lan Viên ca ngợi Mao Chủ Tịch, nhân đây người viết cũng xin phép được ghi lại hai câu thơ đó với lời tri ân tác giả Ngô Nhân Dụng đã có công sưu tầm:
Bác Mao không ở đâu xa
Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao
Chuyện Trí thức của Dân Tộc dưới chế độ “Hồ Xít Mao” buồn thảm như vậy, chẳng qua là vì Bác quá vong bản, chỉ theo các bác Mác - Lê - Xít - Mao mà thôi, chớ không học bài học Lịch Sử nước nhà. Với học vị Lưỡng Khoa Tiến Sĩ như Nguyễn Mạnh Tường, giá gặp thời minh quân thịnh trị thuở xưa, ông hẳn là một vị quan thanh liêm giúp vua cầm việc nước. Với bài phê bình về CCRĐ, ông làm đúng chức năng của một quan Ngự Sử đời xưa can gián nhà vua mỗi khi vua làm điều trái đạo. Tiến Sĩ Nguyễn Mạnh Tường không phạm tội gì cả! Tội là tội của Hồ Chí Minh đã sát hại mấy trăm ngàn người trong cuộc CCRĐ long trời lở đất (không sử gia nào có thể ghi lại con số nạn nhân cho chính xác!). Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, trái lại, có công rất lớn trong cố gắng xây dựng một chế độ dân chủ pháp trị. Nhưng ông chỉ hoài công! Hồ Chí Minh nào có đếm xỉa gì đến dân chủ pháp trị đâu. Chế độ DCCH do Hồ Chí Minh xây dựng bằng bạo lực của mã tấu, lưỡi lê, và súng đạn, và bằng vô vàn xảo trá, lừa lọc, mỵ dân. Vì dối trá mỵ dân nên Hồ Chí Minh chỉ dùng những văn nô như Tố Hữu hay Xuân Diệu để ca ngợi chế độ và ca tụng mình. Vì xử dụng bạo lực để cai trị nên Hồ Chí Minh chỉ dùng những kẻ vô lại độc ác, giỏi nghề chém giết cướp bóc như Trần Quốc Hoàn và Lê Quốc Thân trong Bộ Công An.
Gương Cầu Hiền Của Vua Quang Trung
Đến đây xin nhắc lại tấm gương cầu hiền tuyệt đẹp của vua Quang Trung. Trong đoạn nói về Đức Độ Vua Quang Trung, sử gia Trần Trọng Kim đã viết (Trích Việt Nam Sử Lược, trang 407):
“Vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn là ông vua anh dũng, lấy võ lược mà dựng nghiệp, nhưng Ngài có độ lượng, rất am hiểu việc trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học… Vua Quang Trung từ khi đem quân ra Bắc Hà, biết tiếng La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp là người hiền tài, đã mấy lần sai người mang lễ vật mời ông ra giúp, ông không nhận lễ vật và cũng từ chối không ra. Đến khi Ngài đã đăng cực, lại mấy lần cho người đến mời ông, ông có đến bái yết, và khuyên vua nên lấy nhân nghĩa mà trị dân trị nước, rồi lại xin về. Vua Quang Trung tuy không dùng được ông, nhưng bao giờ cũng tôn kính ông như bậc thầy, và việc chính trị trong nước thường theo ý nghĩa của ông đã trình bày”.
Trong kho tàng truyện Tàu ngày xưa có câu chuyện lý thú về “Kính Chiếu Yêu”, công dụng của kính như sau: “Vì lũ yêu tinh có phép biến hóa thành người, thành thiếu nữ thật xinh đẹp để mê hoặc, hoặc thành Tiên thành Phật để dối gạt dân gian mà không ai biết, nhưng nếu ta có Kính Chiếu Yêu rọi vào, chúng sẽ hoàn lại thành hình yêu tinh ngay. Có Kính Chiếu Yêu trong tay, yêu quái vô phương lừa gạt đặng ta!”
Hai nét Văn Hóa đẹp trong lịch sử Việt Nam là chuyện ông Tô Hiến Thành đời nhà Lý biết chọn người xứng đáng trong việc trị nước cùng với tấm gương cầu hiền thật trong sáng của vua Quang Trung, hai điểm son trong lịch sử đó đã cung cấp cho chúng ta chất liệu cụ thể để chế tạo “Kính Chiếu Yêu” mầu nhiệm. Lấy kính chiếu rọi vào Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ thấy “Bác Hồ nhà ta” hiện ra là “Con Yêu” (Như “Con Yêu Râu Xanh” của tác giả Việt Thường) không dùng đúng người giúp nước như ông Tô Hiến Thành. “Con Yêu họ Hồ” lại không có đủ đức độ dẹp bỏ lòng ganh tỵ hèn hạ để trọng dụng người hiền tài ra giúp nước như tấm gương cầu hiền của vua Quang Trung! Hồ Chí Minh không phải là người yêu nước thương dân, ông lại càng không phải là chính trị gia có tài kinh bang tế thế hầu làm cho nước giàu dân mạnh. Hồ Chí Minh chỉ là chính trị gia tồi tệ. Hảy xem mối bận tâm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh vào những ngày đầu tiên:
- 19-8-1945 Cướp chánh quyền
- 2-9-1945 Đọc Tuyên Ngôn Độc Lập Bịp Bợm
- 3-10-1945 Ra lịnh cho Bộ Trưởng Nội Vụ Võ Nguyên Giáp ký nghị định thành lập chế độ Ủy Ban Nhân Dân ở tất cả các cấp xã, huyện, tỉnh, rập khuôn theo chế độ Xô Viết ở Liên Xô, đúng theo nguyên tắc tổ chức của Cộng Sản. Cuộc “Kách Mệnh Khát Máu”, cuộc “Kách Miệng” (có tác giả gọi như vậy), cuộc “Đảo Lộn Sơn Hà” long trời lở đất của Hồ Chí Minh bắt đầu từ đấy.
Cuộc Đảo Lộn Sơn Hà
Trong thơ văn, những cảnh tang thương biến đổi luôn gây vấn vương tâm hồn người hoài cổ:
Sông kia rày đã nên đồng
Nửa làm nhà cửa nửa trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
Thi sĩ Tú Xương đã tiếc thương cảnh núi lở sông bồi ở Nam Định như vậy! Chỉ là thương nhớ lãng mạn nên thơ! Nhưng chuyện Đảo Lộn Sơn Hà do cuộc Kách Mệnh Khát Máu của Hồ Chí Minh đã gây cảnh núi xương sông máu, nhà tan cửa nát, luân thường đảo lộn, nhân tâm ly tán khắp cả ba miền Đất Nước. Cuộc mở màn chém giết để thống trị Dân Tộc được tác giả Vũ Trọng Kỳ chép lại đôi dòng như sau (Trích tác phẩm Bốn Đời Chạy Giặc, trang 165):
“Liền sau khi Hồ Chí Minh an vị rồi, họ Hồ thay đổi hoàn toàn cơ cấu cai trị Việt Nam, đâu đâu cũng danh hiệu Ủy Ban Nhân Dân, đứng đầu là chủ tịch, nào chủ tịch xã, chủ tịch huyện, chủ tịch tỉnh, những tên đầu trộm đuôi cướp, anh chị đứng bến láu lỉnh, liều lĩnh, tay sai trong giờ phút Việt Minh Cộng Sản vừa cướp được chánh quyền, kể cả những tên xưa nay buôn gian bán lậu, trốn thuế bị hình phạt dưới thời Pháp thuộc, nhẩy vào ghế chánh quyền Cộng Sản để ăn có vài ba nơi. Chúng đưa ra một số thành phần lành mạnh, thân hào, nhân sĩ làm chủ tịch, chỉ là để che mắt. Chúng đóng vai kín đáo trong ủy ban để giật dây, vì chúng là nòng cốt Cộng Sản, được nắm trọn quyền trong tay. Có quyền hành như những vua con địa phương, hơn cả cường hào ác bá thuở trước, nắm quyền sinh quyền sát dưới nhản hiệu Ủy Ban Nhân Dân do Hồ Chí Minh ủy quyền cho chúng, chúng bắt đầu trả thù những quan lại trước hết vì chúng cho rằng quan lại rất trung thành với Pháp, đặc biệt trong công tác truy lùng các nhà cách mệnh Việt Nam.”
Kể làm thí dụ, tác giả Vũ Trọng Kỳ thuật chuyện Bảy Tỉnh là tên buôn gổ lậu nổi tiếng được phong chức Chủ tịch Ủy Ban Hành Chính Kháng Chiến miền Duyên Hải Cẩm Phả, nơi tác giả đang làm. Chính Vũ Trọng Kỳ cũng bị Bảy Tỉnh bắt. Nhưng may cho ông, trong lúc làm việc ở Sở Kiểm Lâm, ông có chuyện bất hòa với cấp trên là người Pháp, bị giáng trật, nhưng được tiếng là chống Tây, nên ông thoát nạn.
Tác giả Nguyễn Thị Thế, người chị em gái duy nhất trong gia đình Nguyễn Tường ở Cẩm Giàng, em của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, chị của Thạch Lam Nguyễn Tường Vinh và Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, trong quyển Hồi Ký Về Gia Đình Nguyễn Tường, ở đoạn “Việt Minh Nổi Dậy” đã viết (trang 175): “Vụ lúa năm đó thì ở thôn quê Việt Minh còn trong bóng tối nổi dậy không biết bao nhiêu, những người thành tích bất hảo hoặc những giới lao động, phu kéo xe, phu vác gạo nổi lên, có một nhóm cầm đầu có súng đạn vào bắt quan Huyện trói lại. Chúng ngồi ăn rồi ném xương xuống đất bắt ăn như là chó vậy”. Tác giả thú nhận rằng sự việc này cũng nghe người ta chứng kiến kể lại thôi, chứ chính mắt thì không thấy, mà làm sao thấy được. Tác giả thuật tiếp: “Còn chức Tri Huyện (ý tác giả muốn nói Chủ Tịch Huyện) thì do họ bầu lên là thằng con ông Thu xưa làm phu vác gạo, tôi biết rõ ông ta từ khi mẹ tôi còn cân gạo”.
Ở một đoạn khác, tác giả Nguyễn Thị Thế viết (trang 140): “Đến năm Việt Minh nổi dậy (1945), mẹ tôi không dám ở nhà, lánh sang chùa Đào Xuyên. Ít tháng sau, Việt Minh bắt cả các sư ông tham gia chiến trận. Sư ông chùa Đào Xuyên bị làm chủ tịch kháng chiến nên đưa mẹ tôi qua chùa sư nữ tận bên Bối Khê”.
Một đảng viên kỳ cựu của Việt Nam Quốc Dân Đảng là Nghiêm Kế Tổ, tác giả quyển Việt Nam Máu Lửa, đã tường thuật thật đầy đủ thời khởi đầu của cơn binh lửa như sau (trang 57): “Những cán bộ hạ tầng lãnh đạo hành chính địa phương, đại đa số, hoặc là các thanh niên mới lớn, hung hăng, không kinh nghiệm, không kể gì đến lễ độ, hoặc những người thô lỗ, ít học, không chuyên môn, đầy tư tưởng báo thù, vị kỷ… Các cán bộ địa phương là tay sai trung kiên nhất, dữ dội nhất… Dân chúng được mục kích luôn luôn cái cảnh bắt bớ, giam hãm đem đi Khu”.
Nghiêm Kế Tổ viết tiếp (trang 58 sđd): “Thành thực mà xét, Ủy Ban Nhân Dân cấp Huyện hoặc Xã có tính cách “đồ tể” hơn là một tổ chức chuyên nghiệp về chính trị hoặc hành chánh”. Tính chất “Đồ Tể” đó, Nghiêm Kế Tổ nhận xét như sau: “Hễ ai trốn trách nhiệm hội họp, ủng hộ… sẽ được gán ngay tiếng Việt Gian, Phản Động. Hai danh từ ấy là Lưỡi Hái của Thần Chết chẳng nể nang ai, dù cha mẹ họ hàng thân thích, dù những người chuyên làm điều thiện, có đạo đức”.
Hoàng Văn Đào, cũng là một đảng viên kỳ cựu của VNQDĐ, đã ghi trong quyển lịch sử Việt Nam Quốc Dân Đảng ở mục “Khủng Bố, Giam Cầm, Và Thủ Tiêu” như sau (trang 240): “Chính quyền địa phương VM tự động vu cho người này là Việt gian, kẻ kia là phản động, ác bá, cường hào, bắt giam và thủ tiêu không biết bao nhiêu mà kể! Mà Ủy Ban Hành Chánh địa phương lúc bấy giờ hầu hết là những phần tử bất hảo nổi lên, vì tư thù cũng gán ngay cho tội là phản động, là cường hào ác bá! Tịch thu tài sản v.v…”
Tác giả Nguyễn Mạnh Côn với bút danh Nguyễn Kiên Trung, một nhân chứng trung thực, trong quyển Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử, nhận xét về cách dùng người của Hồ Chí Minh như sau (trang 63): “Một số người khác chống Việt Minh, vì không chịu nổi cho Việt Minh đưa lên hàng “trị dân, trị nước” một bọn côn đồ mới bữa trước còn ăn trộm, ăn cắp, du thủ du thực. Đây phần lớn là những nhà trí thức sâu sắc, đã yên trí từ lâu rằng công việc cai trị phải được đảm nhiệm bởi những người có bảo đảm về trí tuệ cũng như về đạo đức. Thấy Việt Minh giao phó từng địa phương rộng lớn cho những người không những đã vô học lại còn mang tiếng là lưu manh, nhà trí thức lấy làm lo sợ mà so sánh tình trạng ấy với tình trạng ổn định ở các nước tân tiến. Họ thấy Việt Minh làm việc trái với lẽ phải thông thường, thì Việt Minh tự nhiên nó cũng có ngày tan rã”.
Trong chương Việt Minh Cướp Thời Cơ của quyển Lịch Sử Việt Nam 1940 - 1975 thật đồ sộ trên 1000 trang, tác giả Trần Nhã Nguyên viết (trang 39): “Chính phủ lâm thời của Hồ Chí Minh tung lưới bủa vây, lùng bắt cán bộ của các đảng phái Quốc gia như Việt Cách, Việt Quốc, Duy Dân, Đại Việt, Dân Chính… Các hội hè do cán bộ Cộng sản lãnh đạo mọc lên như nấm: Thanh niên, Phụ nữ, Phụ lão Cứu quốc, Nhi đồng Cứu Quốc, Tự vệ Phố, Tự vệ Thành, Tự vệ Chiến Đấu… đặt dưới sự điều động của các Ủy ban Hành chánh Thành phố, Tỉnh, Phủ, Huyện, Làng… đều là những cánh tay nối dài của đảng Cộng sản. Cảnh đánh đập, tra khảo, thủ tiêu diễn ra khắp nơi đối với những ai bị chụp lên đầu Việt gian, Phản quốc, có Nợ Máu với nhân dân…”
Ở miền Nam, một nhân chứng là Cựu Thẩm Phán Phạm Đình Hưng, trong quyển Cuộc Chiến Cô Đơn, thuật chuyện xảy ra ở làng ông lúc ông 10 tuổi (Sách xuất bản năm 2007, trang 20): “Cuộc sống êm đềm của An Phú Xã, quê tôi, đã bị cuồng phong Cách Mạng Tháng Tám đảo lộn và cuốn mất đi. Riêng tại An Phú Xã, ngay sau khi cướp được chánh quyền tại tỉnh Bình Dương, Việt Minh đã chặt đầu một cách dã man ông Hương Cả Phạm Văn Tuân và người em là ông Hương Hào Phạm Văn Trạc, hai nạn nhân đầu tiên của Cộng Sản tại quê tôi, mặc dầu cả hai là người hiền lành, trung hậu, và giàu lòng giúp đỡ người nghèo khổ. Ông Cả Tuân lại là cha của ông Đốc Học Phạm Văn Trình, người trí thức đứng đầu của An Phú Xã đã tham gia Mặt Trận Việt Minh cùng một lượt với hai người chú của tôi”.
Ở đoạn “Bạo Lực Cách Mạng”, tác giả Phạm Đình Hưng thuật tiếp (trang 21 sđd): “Chính mắt tôi đã mục kích lần đầu tiên trong đời sự biểu diễn bạo lực của một cán bộ cao cấp Việt Minh của Tỉnh Ủy Thủ Biên đến chủ tọa một buổi họp của Tân Ủy Ban Nhân Dân An Phú Xã (thay thế Ban Hội Tề cũ) có sự tham dự của đông đảo dân làng. Giữa buổi họp trang nghiêm, Kiều Đắc Thắng đứng lên hét to và rút súng lục đang mang trong người bắn lên trời vài phát để thị uy cùng đồng bào. Chính tai tôi đã nghe Kiều Đắc Thắng ra lịnh thiêu hủy tất cả đình, chùa, trường học, chợ búa, cơ sở công cộng, và nhà tô của những người giàu có trong làng để áp dụng chiến thuật “Vườn Không Nhà Trống” của Liên Xô trong Thế Chiến Thứ Hai”.
Ngần ấy trích đoạn của các nhân chứng đã cho ta biết cách dùng người của Hồ Chí Minh ở các Ủy Ban xả, huyện, và tỉnh. Đó là những kẻ đầu trộm đuôi cướp, một bè một lứa y như Bộ Trưởng Công An Trần Quốc Hoàn. Tham khảo quyển Chuyện Thâm Cung Dưới Triều Đại Hồ Chí Minh của tác giả Việt Thường, ta có thể thêm nhiều râu ria cho Bộ Mặt Lãnh Đạo của chánh quyền Hồ Chí Minh. Ở bộ giao thông, Kỹ sư Trần Đăng Khoa là bộ trưởng mà phải “xin chỉ thị” của thứ trưởng Hồng Xích Tâm, ủy viên đảng đoàn xuất thân là phu xe kéo (trang 193 sđd). Ở Ủy Ban Văn Hóa Đối Ngoại có học giả Phạm Ngọc Thuần và bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, nhưng cả hai trí thức này đều phải “bẩm báo” với bí thư đảng đoàn Phạm Hồng, mới học xong lớp 4 bổ túc văn hóa (trang 196 sđd). Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, đảng viên kỳ cựu, tuy là bộ trưởng Bộ Y Tế nhưng bị thứ trưởng Đinh Thị Cẩn “kềm kẹp”. Bà nầy là Ủy viên Dự khuyết Trung ương, kiêm bí thư đảng đoàn, trình độ văn hoá lớp 4. Bà từng là Cấp Dưỡng (tức là đầu bếp riêng) của Hồ Chí Minh (trang 198 sđd).
Dân Tộc không phải chỉ gồm bởi những cốt cán trong CCRĐ, những bần nông, hay bần cố nông, hay những công an như “thiên lôi, chỉ đâu đánh đó”. Thành phần ưu tú của Dân Tộc luôn luôn là những trí thức. Nhưng với học lực Lớp 7, Hồ Chí Minh đã xây dựng một chế độ khinh thường trí thức, nếu không nói là “bạc đãi”. Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, đại diện cho giới trí thức ở Hà Nội, viết trong bài phê bình về CCRĐ ngày 30-10-1956 như sau: “Các anh em trí thức kháng chiến thường phàn nàn rằng Đảng Lao Động thiếu tín nhiệm họ. Họ đau khổ mà nhận thấy rằng mặc dầu họ đã trải qua bao nhiêu thử thách, chịu đựng bao nhiêu hy sinh, trải qua bao nhiêu gian nguy, Đảng vẫn chưa tin được họ. Nào họ có yêu sách gì quá đáng đâu? Họ có đòi làm Bộ trưởng hay Đại sứ đâu? Không. Đại đa số các anh em trí thức nói chung không mơ ước các cương vị, công tác lộng lẫy đâu, họ vui lòng nhường chỗ cho các nhà chính trị, các đảng viên. Họ chỉ thiết tha, đòi hỏi được đem khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của họ ra phục vụ nhân dân mà thôi. Họ chỉ thiết tha mong muốn được bảo toàn danh dự trí thức của họ và cái tự do tư tưởng mà họ quan niệm là cần thiết cho nhân phẩm của người trí thức mà thôi”.
Tiến sĩ Tường nhắc lại lời Đảng tuyên bố rằng “Người trí thức là vốn quí của Dân Tộc”, nhưng ông mỉa mai rằng vì vốn ấy quá quí nên phải cất kỷ, giữ gìn nó trong một bán ảnh, một hoàng hôn trường cửu! Với văn phong của tiến sĩ văn chương, Nguyễn Mạnh Tường viết “giữ gìn trong một bán ảnh”, nhưng dân gian thì “nôm na quỵch tẹc” hơn, họ dùng chữ “lộng kiếng”, nên ai cũng hiểu là “trí thức bị liệng cống”.
Cuộc Chiến Tranh Của Hồ Chí Minh Đánh Dân Tộc dài 30 năm khởi đầu bằng sự đảo lộn sơn hà như thế. Sau khi Làn Sóng Đỏ của VC tràn ngập miền Nam, Đại tá VC Phạm Xuân Ẩn, người điệp viên đã nằm vùng ở miền Nam hoạt động tình báo để giúp cho VC thành công, đã vỡ mộng và phàn nàn: “Tất cả các lý luận về “giải phóng” trong hai mươi, ba mươi, hay bốn mươi năm qua đã gây ra một xứ sở nghèo nàn và rách nát, lãnh đạo bởi một lũ ác độc, một bọn lý thuyết gia ít học và chuyên chế”.
Chuyện Đại Tướng Phụ Trách Việc Đặt Vòng
Đó là chuyện Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, “Người Hùng Điện Biên Phủ”, người đã chiến thắng quân Pháp đưa đến việc ký Hiệp ước Genève, và đưa Hồ Chí Minh về Bắc Bộ Phủ để làm chủ miền Bắc của Đất Nước từ sông Bến Hải trở ra. Về mặt quân sự, Chiến Thắng của Võ Nguyên Giáp bị mờ nhạt đi phần nào vì có sự trợ lực của tướng Vi Quốc Thanh và tướng Lã Quý Ba của quân đội Trung Cộng mà Đảng cố sức dấu nhẹm. Về mặt chính trị, chủ quyền Đất Nước từ Nam chí Bắc lúc đó đã nằm gọn trong tay Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam ở Sài Gòn (ngoại trừ những An Toàn Khu ở Việt Bắc do Việt Minh Cộng Sản chiếm giữ). Nền Độc Lập và Thống Nhất của Đất Nước do Quốc Trưởng Bảo Đại thu hồi qua đường lối ngoại giao khôn khéo và chính trị ôn hòa bằng Hiệp Ước Élysée ký với Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Theo Cao Trào Giải Thực cùng với Quyền Dân Tộc Tự Quyết đang được đề cao do Hoa kỳ chủ xướng, Anh Quốc và Hoà Lan hưởng ứng trước nhất, nên sau Thế Chiến II, các thuộc địa sau đây lần lượt được độc lập:
Phi Luật Tân độc lập ngày 4-7-1946
Ấn Độ độc lập ngày 15-8-1947
Miến Điện độc lập ngày 4-1-1948
Nam Dương độc lập ngày 27-12-1947
Mã Lai độc lập ngày 27-12-1947
Tân Gia Ba (tách ra khỏi Mã Lai) độc lập ngày 9-8-1949
Nước Pháp, tuy chậm chạp, nhưng rồi cũng hưởng ứng Cao Trào Giải Thực toàn thế giới. Cho nên Tổng Thống Vincent Auriol đã ký Hiệp Ước với ba vị nguyên thủ Việt Miên Lào là Quốc Trưởng Bảo Đại, Quốc Vương Sihanouk, và Hoàng Thân Sisavangvong để trao trả độc lập cho ba nước Đông Dương:
Việt Nam độc lập ngày 8-3-1949
Ai Lao độc lập ngày 20-7-1949
Cao Miên độc lập ngày 8-11-1949
Theo những điều luận giải trên, sau ngày 8-3-1949, sự hiện diện của Quân Đội Pháp ở Đông Dương chỉ còn là những ngày tháng phù du, cho nên dù không có chiến thắng Điện Biên Phủ, bằng đường lối ngoại giao khôn khéo, quân Pháp rồi cũng sẽ có ngày hồi hương. Ví thử chúng ta tránh được chiến tranh Việt Pháp, chúng ta cũng không cần có Chiến Thắng Điện Biên Phủ, do đó chúng ta đâu có cần phải mời quân đội Trung Cộng sang trợ lực, và nếu được như vậy, đó chính là thượng sách mang Đại Phúc Hạnh cho Dân Tộc!
Tuy nhiên, có trận Điện Biên Phủ thì chúng ta phải nhắc tới tướng Võ Nguyên Giáp. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp là biểu tượng huy hoàng của Chiến Thắng Điện Biên Phủ. “Nhất tướng công thành vạn cốt khô!” người xưa đã nói như vậy, cho nên trong Chiến Thắng Điện Biên Phủ có phần đóng góp và hy sinh vô cùng to lớn của Bộ Đội Việt Nam. Biết bao nhiêu bộ đội đã bị thương tật và hy sinh tánh mạng trong chiến trận đó. Ở hậu phương còn có biết bao nhiêu dân công đã lao lực suốt ngày đêm để cung cấp cho tiền tuyến. Sự huy hoàng của Chiến Thắng đó được Hồ Chí Minh lợi dụng. Trong Đợt Sửa Sai sau cuộc CCRĐ, Hồ Chí Minh đã mượn uy danh của Đại Tướng họ Võ thay ông để thú nhận những sai lầm và xin lỗi đồng bào trong buổi mít tinh lớn tại Nhà Hát Nhân Dân Hà Nội ngày 29-10-1956. Vào thời điểm đó, trước sự căm hờn sôi sục của cả trăm ngàn người bị giết oan, Hồ Chí Minh là chính phạm mà đã hèn nhát không dám ra mặt, phải nhờ Đại Tướng Giáp thay mình. Nhưng than ôi! Đến cuối đời, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp bị loại ra khỏi Bộ Chính Trị năm 1982, và còn bị hạ nhục (Trích Việt Sử Đương Đại của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Phách, trang 209):
“Ngay trước Lễ Kỷ Niệm lần thứ 30 Chiến Thắng Điện Biên Phủ (tức là năm 1984), Lê Đức Thọ đề nghị Chính Phủ giao cho Tướng Giáp giữ Bộ Kế Hoạch Hóa Gia Đình, tức là gánh việc cấm đẻ mà nếu cấm không xong thì phá thai – một chuyện truyền thống ta xem cực kỳ thất đức!”
Than ôi! Đề cử một vị tướng lẫy lừng ngoài chiến trận vào chức vụ kiểm soát sự thao tác của vợ chồng trong phòng the tức là việc phòng ngừa sinh đẻ! Sự đề cử ấy quá ư vụng về, nếu không nói là ác ý và hạ nhục! Và đấy cũng là một cuộc Đảo Lộn Sơn Hà nho nhỏ! Vị “Anh Hùng Điện Biên Phủ” chấp nhận công tác. Nhưng dân gian thì bất bình, ghi vào bia miệng những câu vè bất nhã:
“Ngày xưa Đại Tướng cầm quân
Ngày nay Đại Tướng cầm quần chị em!”
Câu sau đây tả chân trắng trợn và bất nhã hơn:
“Ngày xưa đả viện công đồn
Ngày nay Đại Tướng bịt l. cản cu!”
Những câu vè không đẹp nầy có bôi tro trát trấu lên mặt vị Đại Tướng hay không, xin hãy để dân gian trả lời! Nhưng khi Đảng hạ nhục Đại Tướng, Đảng đã tự bôi tro trát trấu lên mặt mình, cho nên Đảng cũng không vinh quang hơn tý nào! Bây giờ, chúng ta không khỏi không thương cảm vị Đại Tướng về già mà phải cảnh vắt chanh bỏ vỏ. Tuy ông không bị trù dập tệ hại như Tiến Sĩ Nguyễn Mạnh Tường, nhưng ông đã đánh mất phong độ uy dũng của vì tướng và Đảng đã không dành tí ti vinh quang nào cho buổi về chiều của đời ông! Đảng đã vong ân bội nghĩa, Đảng đã cạn tàu ráo máng giống y khuôn vị Chủ Tịch sáng lập ra Đảng! Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã vong ân bất kính đối với những người có công như Tiến Sĩ Nguyễn Mạnh Tường và Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, đối với những bộ đội đã bị thương tật, và nhất là đối với vong linh những người đã hy sinh trong chiến trận. Còn nói chi đến việc yêu nước thương dân! Còn nói chi đến việc kinh bang tế thế làm cho nước giàu dân mạnh! Nhưng Đảng là sản phẩm của Hồ Chí Minh và Hồ Chí Minh suốt đời chỉ lo xây dựng Đảng và xử dụng Đảng để sát hại Dân Tộc và tàn phá Đất Nước. Nhìn sản phẩm, ta biết người. Hồ Chí Minh chỉ là chính trị gia tồi tệ.
Chuyện Giặc Tàu, Giặc Pháp, Giặc Hồ
Trong Lịch Sử Việt Nam, ngoài những đám giặc cỏ như giặc Châu Chấu, giặc Cờ Đen, giặc Cờ Vàng, v.v… có ba loại giặc lớn là Giặc Tàu, Giặc Pháp, và Giặc Hồ. Những bài văn sau đây nói về ba loại giặc đó, xin mời quý bạn đọc. Bài văn thứ nhất :
“Vì họ Hồ (tức Hồ Quý Ly) chính sự phiền hà, để trong nước nhân dân oán bạn. Quân cuồng Minh đã thừa cơ tứ ngược, bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Chước đối đủ muôn nghìn khoé, ác chứa ngót hai mươi năm. Bại nhân nghĩa, nát cả càn khôn, nặng khoa liễm vét không sơn trạch. Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò châu, nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim sả. Tàn hại cả côn trùng thảo mộc; nheo nhóc thay quan quả điên liên.
Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán. Nay xây nhà, mai đắp đất, tay chân nào phục dịch cho vừa. Nặng nề về những nỗi phu phen, bắt bớ mất cả nghề canh cửi. Độc ác thay! trúc rừng không ghi hết tội; dơ bẩn thay! nước bể không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất tha cho, ai bảo thần nhân nhịn được”.
Đó là bài văn thứ nhất, và sau đây là bài văn thứ hai, mời quý bạn đọc tiếp:
“Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân... Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân một cách vô cùng tàn nhẫn...”
Kính thưa quý độc giả, hai bài văn đó được viết cách nhau một khoảng thời gian dài trên 500 năm. Đoạn văn đầu được trích từ áng văn đẹp tuyệt vời trong lịch sử Việt Nam, bài Bình Ngô Đại Cáo, do Nguyễn Trãi soạn thảo năm 1427 sau khi Bình Định Vương Lê Lợi quét sạch tan giặc nhà Minh sang xâm chiếm nước ta. Bản văn diễn tả cảnh lầm than khốn khổ của dân ta trong 20 năm bị nhà Minh bên Tàu cai trị ( từ năm 1407 đến 1427). Đoạn văn thứ hai trích từ bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh đọc ngày 2-9-1945 diễn tả cảnh tàn ác, tham lam, giết hại dân lành của Thực Dân Pháp trong 80 năm Pháp thuộc!
Bây giờ, mời quý bạn đọc bản văn thứ ba, được trích dẫn từ bài “VN 32 Năm Dưới Chế Độ Cộng Sản”. Tác giả là một Kỹ Sư Công Chánh, nhân chuyến về thăm Việt Nam, đã ghi lại những điều vụn vặt mắt thấy tai nghe dưới bút hiệu Phó Thường Dân và gởi bài đăng trong Nguyệt San Hồn Việt (Số 296, tháng 5-2008).
“Tôi thấy ở Sài Gòn với hiện tượng “tiếm công vi tư” lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê… Chưa thoả mãn, ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng. Ông chủ bự này chắc chắn không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy… Còn nhiều… rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhãn ở khắp Sài Gòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể: Một công thự ở vườn Tao Đàn, nhà cấp cho viên giám đốc, mặt tiền ngó vào trong, mặt hậu nhìn ra phía đường, bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi… Ngang ngược và lộng hành nhất là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương Minh Ký, đường Trần Hưng Đạo, chễm chệ xây lên ngay góc phải sân trường, ăn cướp một phần sân chơi của học sinh… Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công an. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà, không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn. Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai? Tất nhiên là phải thưa với công an. Không lẽ công an xử công an?”
Tác giả Phó Thường Dân viết “Không lẽ công an xử công an” và nhắc lại lời cố Trung Tướng Trần Độ viết trong Nhật Ký Rồng Rắn, cũng tương tự như vậy: “Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Đảng. Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Đảng chống tham nhũng thì Đảng chống Đảng sao?”.
Lịch sử là chuyện lặp đi lặp lại những sự việc trong quá khứ. Thời buổi nào cũng có chuyện cá lớn nuốt cá bé, chuyện mạnh ăn hiếp yếu, chuyện cường hào ác bá hiếp đáp dân lành! Bài văn thứ nhất tả cảnh giặc nhà Minh bên Tàu sang hiếp đáp dân ta. Bài văn thứ hai, Hồ Chí Minh nói về sự ác độc của Thực Dân Pháp. Bài văn thứ ba nói về sự lộng hành chiếm đoạt đất công của công an và quan chức đỏ ngay tại Sài Gòn. Cần nhắc lại là sau khi cưởng chiếm miền Nam, những chính sách “Học Tập Cải Tạo”, “Xây Dựng Vùng Kinh Tế Mới”, v.v… chỉ là những thủ đoạn ăn cướp nhà cửa của cải của người dân. Sau đợt chiếm đoạt tài sản của tư nhân xong, công an và quan chức đỏ, tức là Đảng, quay sang chiếm đoạt đất công cộng, lề đường, công viên, đến sân chơi của học sinh cũng không chừa! Tựu chung, ba bài văn nói đến ba loại giặc, Giặc Tàu, Giặc Pháp, Giặc Hồ, tất cả chỉ là chuyện kẻ có quyền thế cướp đoạt của người dân thấp cổ bé miệng, nhưng xét cho thấu đáo, hiển nhiên trong Trận Giặc Hồ, đảng viên Đảng Cộng Sản do Hồ Chí Minh thành lập, toàn là người Việt, mà sao lại tham tàn ác độc hơn cả quân của Tô Định, quân nhà Minh, và Thực Dân Pháp ngày xưa!
Đảng đã phá hoại Đất Nước triền miên. Xin được thêm vào thành tích phá hoại mới nhất của Đảng, việc phá Tòa Khâm Sứ Hà Nội. Sau Mùa Bịt Miệng 2007 ô nhục, tiếng xấu vang xa khắp thế giới, thì đến năm 2008, là Mùa Phá Tòa Khâm Sứ Hà Nội, ô nhục chất chồng ô nhục! Vụ Tòa Khâm Sứ Hà Nội (số 40-42 đường Nhà Chung) và Giáo Xứ Thái Hà (số 178 đường Nguyễn Lương Bằng) ẩn tàng nhiều uẩn khúc. Đem tất cả ra ánh sáng chân lý, đầu dây mối nhợ dẫn đến thủ phạm của sự việc, hóa ra chỉ là lòng tham của các Quan Chức Đỏ, những người mà nữ sĩ Dương Thu Hương gọi là những “Bự Giòi”. Tòa Khâm Sứ Hà Nội là sở hữu chủ mảnh đất 2 mẫu rưởi ở đường Nhà Chung đó. Trên con đường mang tên Nhà Chung (danh từ riêng, viết hoa) có ngôi nhà chung của Giáo xứ Thái Hòa, và ngôi nhà chung nầy được thiết lập trên 100 năm, thật lâu trước khi Đảng Cộng Sản Đông Dương ra đời. Đến năm 1954, Đảng Cộng Sản chiếm đoạt khu đất nầy. Từ năm 1994, nhà chung bị biến thành ổ giải trí Karaoke của một số lãnh đạo Quận Hoàn Kiếm.
Tòa Khâm Sứ Hà Nội đã lên án sự chiếm hữu đất tôn giáo làm của riêng và yêu cầu Đảng trả lại đất. Giáo dân ngày đêm đến cầu nguyện trước đài Thánh Giá và tượng Đức Mẹ dưới gốc cây cổ thụ trong khuôn viên tòa Khâm Sứ. Thành Ủy Hà Nội ra lịnh cơ quan công quyền giải tán đám giáo dân cầu nguyện đòi đất, lại còn tàn nhẩn đập đài Thánh Giá và tượng Đức Mẹ. Giáo dân cũng không vừa, xây đài Thánh Giá lại, đài mới cao hơn đài cũ. Không chịu thua, Đảng thẳng tay đàn áp, dùng dùi cui, hơi cay, dùng cả roi điện đánh đập giáo dân một cách dã man, có lúc Đảng lại còn cho du đảng giả dạng thường dân và xử dụng “chó nghiệp vụ” lâm trận. Xem đấy, “Cuộc Chiến Tranh của Hồ Chí Minh đánh Dân Tộc” nào có ngưng vào ngày 30-4-1975 đâu! Vẫn còn đánh mãi!
Để rút ngắn câu chuyện, bên giáo dân thấp cổ bé miệng của giáo xứ Thái Hà có đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt trợ lực, cùng sự ủng hộ của đồng bào thân thương khắp nơi trên thế giới, và nhất là có Chính Nghĩa quyết tâm đòi lại ngôi nhà cũ ôm ấp đầy kỷ niệm cả trăm năm dài. Trái lại, bên Ủy Ban Nhân Dân quận Hoàn Kiếm, có quyền có thế, có lòng tham thúc đẩy, và có giá đất mắc hơn vàng làm chất xúc tác, nhưng lại đuối lý. Không phân lô bán đất được, Đảng bèn chơi trò “không ăn thì phá cho hôi”. Chiều ngày 18-9-2008, Đảng công bố dự án xây dựng công viên trên hai miếng đất đó. Ngay trong đêm, ví như đám cưới chạy tang, Đảng mang hàng rào ngựa sắt và kẽm gai cô lập khu vực tòa Khâm Sứ và giáo xứ Thái Hà và cho xe cơ giới tới ủi sạch, san bằng tòa Khâm Sứ và nhà chung thành bình địa!
Trong lịch sử loài người, duy nhất chỉ có nhà nước CHXHCN Việt Nam là sắp xếp việc xây dựng công viên cách trộm lén vào ban đêm mà thôi, một thành tích đáng hổ thẹn, gây tủi nhục cho cả Dân Tộc 4000 năm văn hiến! Nhớ lại khi đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt phát biểu một câu nói để đời: “Chúng tôi rất nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam”, Ngài không nói riêng cho Ngài, Ngài không nói riêng cho giáo dân Thái Hà, mà Ngài đã dũng cảm đứng lên nói thay cho “Tám Mươi Lăm Triệu Người Dân Việt”.
Nhân sự cố nầy, ta có thêm một bằng chứng “Đảng gian mà không ngoan!”. Việc xây dựng thêm một công viên trên khu đất Thái Hà là hoàn toàn vô lý, vì ngay gần đó, chỉ cách vài trăm mét, hiện đang có một khu công viên rộng lớn đang bị bỏ hoang phế. Đó là Công Viên Văn Hóa Đống Đa, nằm ngay trên khu di tích lịch sử gò Đống Đa. Công viên được thành hình vào năm 1989, nhân dịp Kỷ Niệm 200 năm chiến thắng oanh liệt của vị anh hùng Nguyễn Huệ. Khu công viên Đống Đa có tổng diện tích trên 21 ngàn mét vuông, có tượng vua Quang Trung và có nhà trưng bày di vật lịch sử. Hiện toàn bộ công viên đang bị bỏ hoang, cỏ dại tràn ngập, những cây cổ thụ quý giá thì bị cán bộ đảng viên vào cưa trộm giống như lâm tặc. Than ôi! Cây phải trăm năm, nghìn năm mới nên cổ thụ, đốn cây lâm tặc chỉ cần một giờ! Đảng viên của Đảng phá hoại Đất Nước ngay trong lòng Hà Nội nghìn năm văn vật, cái nôi của nền Văn Hóa Việt! Thật vô cùng nhục nhã!
Để có đủ dữ kiện viết Chuyện Phá Tòa Khâm Sứ trên đây, người viết xin cảm tạ các tác giả và các báo mà người viết đã tham khảo: Trần Hùng, Trung Điền, Nguyễn Bình, Ngô Đức Diễm, Trần Khải Thanh Thủy (bài đăng trong Nam Úc Tuần Báo, Adelaide) và Nguyễn Thái Hà, Đỗ Mạnh Tri, Hoàng Cúc, Hiếu Minh (bài đăng trong Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận, báo biếu tặng, phát hành ở Sydney).
Hai tháng sau khi phá Tòa Khâm Sứ Hà Nội, Việt Cộng ra tay tàn phá chùa Phật Tích ở Bắc Ninh, ngôi chùa cổ đã có một ngàn năm lịch sử! Ngày tang tóc là 23-11-2008! Ngày tang tóc cũng là ngày ô nhục! Vô cùng ô nhục! Vì chính ngay ngày đó, khi Phái Đoàn Khảo Cổ Quốc Tế gồm các nhà nghiên cứu Nhật, Đại Hàn, Đài Loan, Pháp, Bỉ từ Hà Nội đến Bắc Ninh để tham quan chùa, thì than ôi! ngôi chùa đã biến mất, chỉ còn trơ lại đống gạch vụn điêu tàn! Tượng Phật cùng cổ vật xưa ngàn năm trong chùa bị vất ngổn ngang!
Chùa Phật tích được xây dựng vào năm 1057 với nhiều tòa ngang dãy dọc. Chùa tọa lạc dưới chân núi Phật Tích, còn gọi là núi Lạn Kha hay non Tiên, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1066, vua Lý Thánh Tông cho xây một cái tháp cao. Khi tháp đổ, bên trong lộ ra bức tượng A Di Đà bằng đá xanh dát vàng. Pho tượng xuất hiện quá kỳ diệu khiến làng đổi tên là Phật Tích và dời cả lên sườn núi. Chùa là một đại danh lam có quang cảnh tươi đẹp nên các vua Lý và vua Trần thường tới lui thăm viếng. Vua Trần Nhân Tông cho xây một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Đời vua Trần Nghệ Tông, khoa thi Thái Học Sinh (Tiến Sĩ) được tổ chức tại chùa. Đời vua Lê Hiển Tông, một đại yến hội được mở tại đây.
Ngàn năm dài trôi qua, chùa bị hư hại đổ nát nhưng luôn luôn được trùng tu. Dưới triều Lê, chùa được trùng tu và xây dựng lại với quy mô rộng lớn và đổi tên là Vạn Phúc Tự. Cho tới nay, chùa gồm 7 gian tiền dường để đón tiếp khách, 5 gian bảo điện thờ Phật Thích Ca, A Di Đà, cùng các vị Tam Thế, 8 gian nhà Tổ, và 7 gian thờ Thánh Mẫu. Năm 1962, chùa Phật Tích được công nhận là “Di Tích Lịch Sử Văn Hóa”. Phái Đoàn Khảo Cổ Quốc Tế nói trên đến Việt Nam để nghiên cứu về Hoàng Thành Thăng Long. Theo Vietnamnet thì ngày 23-11-2008, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam tổ chức mời và đưa phái đoàn đến tham quan và nghiên cứu chùa. Nào ngờ, khi phái đoàn đến nơi thì chùa Phật Tích không còn nữa, chùa đã bị phá tan thành bình địa! Phá sập chùa Phật Tích thật là hành vi xúc phạm thô bạo Luật Di Sản Văn Hóa.
Lại thêm một tin buồn muốn khóc! Dân Tộc còn đang đau khổ với vết thương “Phá Chùa Phật Tích”, ngôi cổ tự một ngàn năm lịch sử, thì Đảng của Hồ Chí Minh lại chém Dân Tộc thêm một nhát đau thương nữa. Năm tháng sau đó, khoảng tháng 4-2009, đến phiên Đền Rồng thờ Lý Chiêu Hoàng (vị Nữ Hoàng duy nhất trong lịch sử VN) ở làng Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh bị đập phá tan tành, chỉ còn lại cái cổng chào! Đền Rồng được xây cất vào cuối thế kỷ 13, đời vua Trần Nhân Tông (1281) và cũng được công nhận là Di Tích Lịch Sử Văn Hóa! Nhớ lại năm xưa, khi cơ quan UNESCO của Liên Hiệp Quốc quyết định KHÔNG đề cử Hồ Chí Minh vào Danh Sách Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới, thật là một quyết định sáng suốt. Giả sử “Bác Hồ Nhà Ta” được bình bầu là Danh Nhân Văn Hóa Quốc Tế và được Quốc Tế trọng vọng, thật không biết Dân Tộc Việt Nam làm sao gánh nổi cái khối Ô Nhục Vĩ Đại này!
Đức Phật có nói: “Nhân Nào Quả Nấy”. Suy ra người hiền gieo nhân lành thì được quả đẹp! Nhưng con người ác tâm như Hồ Chí Minh thì khác. Hơn 50 năm trước, Hồ Chí Minh đã gieo hạt giống “trộm cướp” vào ngành công an với kẻ “đầu trộm đuôi cướp” Trần Quốc Hoàn trong chức vụ Bộ Trưởng trong 27 năm dài! Ý niệm “Thượng Tôn Pháp Luật” là hạt giống lành vô cùng cần thiết và quý trọng để xây dựng Đất Nước thì Chủ Tịch Hồ Chí Minh lại chẳng màng. Hãy xem Tiến Sĩ Luật Khoa Nguyễn Mạnh Tường, ở ngay Thủ Đô Hà Nội, mà bị trù dập phải sống trong cảnh bần hàn cùng cực. Hồ Chí Minh đã xây dựng Chế Độ Công An Trị và ông đã thành công, thành công, đại thành công. Đi vào lịch sử, Hồ Chí Minh thật xứng danh là TÊN GIẶC CƯỚP NƯỚC, còn bàn chi đến chuyện “Chính Trị Gia Tồi Tệ hay Không Tồi Tệ”!
Ở Úc Châu vào năm 2007, Luật sư Đào Tăng Dực, thuộc hai thế hệ sau Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, trong bài viết “Đánh Giá Di Sản Ông Hồ Chí Minh Qua Hiện Tình Đất Nước” (Bán tuần báo Việt Luận, số 2158, ngày 20-4-2007) đã có nhận xét đáng buồn cho Đất Nước và Dân Tộc như sau: “Chỉ riêng tại Việt Nam, quân đội và công an mang tiếng là của nhân dân, nhưng kỳ thực chỉ là những tên đầy tớ trung thành của một đảng cướp có võ trang mà thôi. Một trong những tội lớn nhất của hậu duệ của ông Hồ Chí Minh là biến bản chất anh hùng và bất khuất của quân đội thành những tên nô bộc của một chế độ độc đảng.”
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường chất vấn Đảng năm 1991, tức là 22 năm sau khi Hồ Chí Minh qua đời. Đến năm 2007, khi Luật sư Đào Tăng Dực viết bài về Di Sản Hồ Chí Minh thì ông Hồ đã mất 38 năm trước. Định hướng sai lầm về chính trị của Hồ Chí Minh được Luật sư Đào Tăng Dực viết trong đoạn kết như sau: “Hiện tình đất nước như thế phát xuất từ quyết định của ông Hồ Chí Minh, vào năm 1925, gia nhập phong trào quốc tế, thay vì noi gương các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và các lãnh tụ quốc gia kháng Pháp. Không có ông Hồ thì đất nước chúng ta ngày hôm nay đã qua mặt Thái Lan, Mã Lai và ít nhất cũng đã sánh vai cùng Nam Hàn, Đài Loan, Hồng Kông, và Nhật Bản. Bước đi sai lầm của ông Hồ đã di họa cho nhiều thế hệ dân tộc Việt Nam là như thế”.
Chỉ Vì Một Ngàn Quan!
“Ôi! Chỉ Vì Một Ngàn Quan!”, tiếng than thống thiết của Dân Tộc tám mươi triệu người! (trừ số đảng viên Cộng Sản, dĩ nhiên). “Một ngàn quan!”, đó là số tiền Đảng Cộng Sản Pháp cấp cho đảng viên Nguyễn Ái Quốc làm lộ phí để đi Liên Xô dự Đại Hội V của Komintern. Vào thập niên 1920, một ngàn quan là số tiền khá lớn. Bằng ấy tiền, một du học sinh ở Pháp có thể sống trong 5 tháng. Hãy xem thân phận của Hồ Chí Minh lúc còn mang tên Nguyễn Tất Thành. Vào lúc đó, ở Paris có một nhóm người viết bài và truyền đơn tranh đấu bằng tiếng Pháp và ký tên chung “Pour le groupe des Patriotes Annamites: Nguyen le Patriote” (tạm dịch “Thay Mặt Nhóm Người An Nam Yêu Nước: Nguyễn Ái Quốc”). Nhóm viết bài đó thường được gọi là Ngũ Long gồm có Phó Bảng Phan Châu Trinh, Luật sư Phan Văn Trường, Kỹ sư Nguyễn Thế Truyền, Cử nhân Luật Nguyễn An Ninh, và Hồ Chí Minh lúc đó còn mang tên Nguyễn Tất Thành, mới học xong bậc Tiểu học, đang học Đệ Nhất Niên Trung học thì bỏ học. Xin viết thêm, Phan Văn Trường là người Việt Nam đầu tiên đậu tiến sĩ Luật ở Pháp năm 1918, còn Nguyễn An Ninh đã học luật ở Đại Học Hà Nội, vừa sang Pháp được 4 tháng, gặp đúng kỳ thi Cử Nhân Luật, ông nạp đơn thi và được chấm đậu. Hồ Chí Minh, với học lực thấp kém như vậy, cho nên từ lúc đặt chân lên đất Pháp năm 1911, lưu lạc ở Anh và Hoa Kỳ, rồi sau trở về Pháp, ông không làm được công việc gì vẻ vang. Dù ở nơi nào, ông cũng chỉ làm lao động tay chân như bồi tàu, giúp việc nhà (tức là làm “osin”), phụ bếp, rửa chén bát kiêm đổ rác, thợ làm bánh, cào tuyết mùa đông (chỉ làm được 1 ngày rồi bỏ việc), thợ đốt lò, rửa hình và tô ảnh phóng đại, ông lại thú nhận có nghề làm đồ cổ giả để gạ bán cho các bà đầm Pháp, một thời gian dài được ở nhờ nhà Luật Sư Phan Văn Trường, số 6 Villa des Gobelins, khỏi trả tiền thuê. Với lối sinh nhai bấp bênh như vậy, số tiền “Một Ngàn Quan” hẳn là một món quà tặng quá lớn làm chuyển hướng đời ông.
Vào thuở đó, trong số mấy ngàn Việt kiều sinh sống ở Paris, Bác Hồ chỉ là “Chú Nguyễn Tất Thành” lục lục thường tài, vô danh tiểu tốt. “Chú” không làm Chủ Tịch đảng Chính Trị nào, “Chú” cũng không làm Hội Trưởng hội Ái Hữu nào để được nổi bật hơn ai, như trên đã diễn tả. Nhưng trong quyển Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện viết dưới ẩn danh T. Lan, “Bác Hồ Chí Minh” đã nâng cấp cho “Chú Nguyễn Tất Thành” lên thành một chính khách lỗi lạc, đáng mặt thượng khách của Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp. Xin trích dẫn T. Lan:
“Hồi đó Bác trọ nhà luật sư Phan Văn Trường ở Pa-ri. Buổi sáng thì đi làm nghề tô ảnh phóng đại để lấy tiền ăn. Buổi chiều thì hoạt động cách mạng. Chánh phủ Pháp cho hai tên mật thám đêm ngày theo dõi bác… Một buổi trưa đi làm về, bà giữ nhà đưa cho Bác một bức thư. Mở thư xem thì ra của quan thượng thư thuộc địa mời Bác đến gặp. Cách vài hôm sau, Bác đi gặp y”.
“Trong phòng khách của Bộ Thuộc Địa, một bầy người Pháp “tai to mặt lớn” đang nhô nhố chờ đến phiên mình được “quan thượng” gọi vào. Nhưng Bác không phải chờ, vừa đến thì liền có ông già mang xiềng bằng bạc (người truyền đạt ở các cơ quan cao cấp) mời vào ngay”.
Nhớ lại chuyện xưa, lúc vừa đặt chân lên đất Pháp năm 1911, Bác liền viết đơn cầu xin “quan thượng” thương tình cho vào học Trường Thuộc Địa của “quan thượng”. Lá đơn sai lỗi chính tả đó chưa chắc được lọt vào mắt của “quan thượng” (xin xem lại Chương 3 Hồ Chí Minh, Kẻ Mang Tên Giả). Ấy thế mà 9 năm sau, Bác bỗng trở thành thượng khách của “quan thượng”, được “quan thượng” viết thư mời, và khi Bác đến thì được mời vào ngay. Bác không phải chờ, chỉ có “một bầy người Pháp tai to mặt lớn” đến trước Bác phải chờ mà thôi! Ôi, Bác thật có tài bịa chuyện nói phét! Nhưng bạn đọc thân mến ơi, điều tệ hại là Bác đã đi xa về khoác lác với những dân quê suốt đời không ra khỏi lũy tre làng!
Lúc đó, Bác là đảng viên Đảng Xã Hội Pháp do Nguyễn Thế Truyền giới thiệu gia nhập. Trong Đại Hội Tours (từ 25 đến 30-12-1920), Bác bỏ phiếu gia nhập Đệ Tam Quốc Tế của Lenin vừa mới thành lập, do đó Đảng Cộng Sản Pháp được thành hình, và Bác bỗng trở thành Hội Viên Sáng Lập Đảng CS Pháp, điều làm cho các văn nô ở Bắc Bộ Phủ rất hãnh diện. Xét cho cùng, hành động “bỏ phiếu” để xin gia nhập Đệ Tam Quốc Tế cũng không nặng nhọc gì! Bác cũng không tốn mồ hôi, đổ xương máu chút nào để xây dựng Đảng Cộng Sản Pháp. Ngược lại, Bác còn được Đảng tặng một ngàn quan! Như chiếc đủa thần của Bà Tiên đã biến cô bé Lọ Lem thành nàng công chúa diễm lệ, số tiền một ngàn quan ấy cũng được ví von như vậy. Một ngàn quan đó đã đưa Hồ Chí Minh lên đài danh vọng. Hãy đọc quyển Bác Hồ Trên Đất Nước Lê-Nin của tác giả Hồng Hà để xem Bác thoát xác ra sao. Đang là một người lao động tay chân, Bác Hồ bỗng trở thành nhân vật quan trọng: “Chuyến xe lửa Pa-ri đi Béc-lin rời ga Đuy No vào lúc tối. Trên toa hạng nhất có một thanh niên châu Á ngồi cạnh chiếc va-li con rất mới, đang hút xi gà. Đầu anh chải mượt, sơ-mi trắng, cổ cứng may cao, ca-vát thắt để lộ rõ cả vòng cổ, đúng thời trang châu Âu sau chiến tranh thế giới. Trông anh có vẻ là một nhà buôn Trung Quốc giàu có hoặc là một khách du lịch Nhật Bản sang trọng… Anh chính là Nguyễn Ái Quốc… ”
Với “Một Ngàn Quan” trong túi, khi đến đất Đức, Bác bỗng trở thành triệu phú. Trong quyển Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện, Bác đóng vai T.Lan và kể như sau:
“Tuy sau chiến tranh đã sáu năm, ở Bá Linh vẫn đói kém dữ (có lẽ ở các nơi khác cũng vậy). Người nào cũng có vẻ xanh xao, vàng vọt! Nạn lạm phát giấy bạc thật là kinh khủng, sớm một giá, chiều một giá khác. Đưa giấy bạc mua một tờ báo thì số giấy bạc chắp nhau lại, rộng hơn tờ báo. Cả gia tài Bác chỉ vẻn vẹn hơn 1.000 quan Phơ-răng, vậy mà tính ra tiền Đức, Bác đã trở thành người giàu bạc triệu!”
Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế đã mở bàn tay nhung ôm ấp Hồ Chí Minh. Số tiền “Một Ngàn Quan” chỉ là bước khởi đầu, sau đó còn biết bao nhiêu ân sủng nữa. Thí dụ như thuyền trưởng chiếc tàu chở ông đến đất Nga thấy ông bị lạnh nên mới cho ông mượn cái áo choàng bằng lông thú và bảo với ông là “cứ giữ lấy mà mặc đến khi nào không dùng nữa thì thôi”. Áo lông thú không phải là vật rẻ tiền, Trần Dân Tiên đã khoe như vậy để chứng tỏ ông là người được trọng vọng.
Nữ Tiến sĩ Quinn-Judge khi trả lời đài BBC về câu hỏi vị trí của Hồ Chí Minh lúc ông còn là đảng viên của Đảng Cộng Sản Pháp, câu trả lời của bà có thể tóm gọn “…ông Hồ dường như bắt đầu học cách hợp tác với bất kỳ ai đang nắm quyền lực và học cách theo đuổi những quan tâm của riêng mình”. Đến đây, xin đọc bức thư của Phan Châu Trinh viết ở Marseille ngày 18-2-1922 gởi cho ông ở Paris lúc ông còn mang tên Nguyễn Tất Thành (Trích Những Hoạt Động Của Phan Châu Trinh Tại Pháp 1911-1925, tác giả Tiến sĩ Thu Trang, trang176):
“Bấy lâu nay, tôi cùng anh và Phan (tức Phan Văn Trường) đàm đạo nhiều việc, mãi đến bây giờ, anh cũng không ưa cái phương pháp khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của tôi… Tôi biết anh hấp thụ được cái chủ nghĩa của ông Mã Khắc Tư (Karl Marx), ông Lý Ninh (Lénine)… Cứ xem hai ông Mã, Lý mà anh tôn thờ chủ nghĩa, có ông nào dùng cái lối nương náu đất người mà làm quốc sự cho mình, như anh đâu? Bởi vậy, quả như anh tôn thờ lý thuyết hai ông ấy thì anh nghe lời tôi mà về quảng cáo cho quốc dân đồng bào, ai nấy đều biết, có phải là cái phương pháp hay biết chừng nào.”.
Chín chữ “Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân Sinh” trong thư cụ Phan là kế hoạch ba mặt phát triển, bồi dưỡng, và chấn hưng Dân Tộc trong Quốc Sách Duy Tân mà Đất Nước cần phải theo đuổi để cho kịp các nước Tây Phương, nhưng Hồ Chí Minh lại chẳng màng. Còn chủ nghĩa Mác Lê ông tôn thờ, thì ông giữ kín trong tâm không lộ cho ai biết, mà bề ngoài chỉ đóng vai yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc để lừa gạt mọi người.
Nữ sử gia Quinn-Judge biết rõ bản chất Hồ Chí Minh nhờ công trình nghiên cứu thấu đáo, còn nhà chí sĩ Phan Châu Trinh biết là nhờ sống chung nhiều năm dưới một mái nhà ở Paris. Tóm gọn lại, hai vị đó đã cho chúng ta một nhận xét chính xác về chân tướng Hồ Chí Minh với hai nét chính yếu: (1) ông không ưa thích cái phương pháp Duy Tân của cụ Phan và (2) ông đang học cách hợp tác với những người nắm quyền lực, vào lúc đó, Lenin và Stalin là những người có uy quyền nhất. Cuộn phim lịch sử đi tìm quyền lực ở Liên Xô của Hồ Chí Minh được trình chiếu lại rõ ràng như sau:
“Với “một ngàn quan” của Đảng Cộng Sản Pháp tặng làm lộ phí, Nguyễn Tất Thành lên đường qua Nga, bỏ lại cho cụ Phan cái phương pháp “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” mà ông chẳng chút bận tâm mà còn chê là cổ hủ. Rồi vì “tham vọng chạy theo quyền lực”, và tinh ranh ôm trọn “hào quang cách mạng của nhóm Ngũ Long” vào tô điểm cho căn cước của mình, và như thế, Nguyễn Tất Thành biến thành Nguyễn Ái Quốc đi Nga để gặp Lenin!”
Bà Quinn-Judge còn nhận xét rằng Hồ Chí Minh cũng học cách theo đuổi những quan tâm của riêng mình. Lời nhận xét nghiệm đúng vì trọn đời Hồ Chí Minh sống bằng nghề gián điệp. Danh sách dài về nhiệm sở gián điệp Hồ Chí Minh đã cộng tác và phục vụ như sau:
1- Là nhân viên KGB của Liên Xô theo dõi Đảng Cộng Sản Tàu do Mao Trạch Đông lãnh đạo.
2- Hợp tác với Phản Gián Trung Cộng để theo dõi quân Tưởng Giới Thạch.
3- Là gián điệp của Trương Phát Khuê để giám sát các hoạt động của người Việt yêu nước trên đất Tàu.
4- Cộng tác với cơ quan OSS (tiền thân CIA) của Mỹ để chống Nhật.
5- Nhưng độc hại và phản phúc nhất là cam tâm cộng tác với Phòng Nhì Pháp để hảm hại những người quốc gia yêu nước như cụ Phan Bội Châu và cả những người cộng sản vì sợ tranh quyền với mình.
6- Còn có tin đồn ông có cộng tác với Tình Báo của Anh ở Hương Cảng.
Đại Họa Hồ Chí Minh
Dân Tộc Việt Nam thật vô cùng bất hạnh. Khi Thế Chiến II chấm dứt, chiến tranh Triều Tiên chỉ kéo dài có 3 năm. Nhưng cuộc chiến trên đất Việt, “Cuộc Chiến Tranh của Hồ Chí Minh gây ra để đánh Dân Tộc” kéo dài đến 30 năm, đó là “Tam Thập Niên Chiến, 1945-1975”, sử gia Vũ Ngự Chiêu đã viết như vậy. Cuộc chiến đó tưởng đâu đã chấm dứt vào ngày 30-4-1975, nhưng không, chỉ là hết giai đoạn nóng! Vào lúc đó Hồ Chí Minh đã chết rồi, nhưng Đảng của ông vẫn tiếp diễn cuộc chiến tiến qua giai đoạn lạnh, vẫn đánh triền miên không dứt, mà lại đánh tàn nhẫn hơn xưa. Bởi lẽ khi người lính Quân Lực VNCH buông súng, không bảo vệ được ai, thì Đảng đánh tràn lan lên cả gia đình họ, đánh lên khắp cả miền Nam, không bỏ sót một kẻ buôn gánh bán bưng nào hết! Nhà mô phạm và nhà báo Nguyễn Thuyên ở Melbourne viết quyển Việt Nam Điêu Tàn Bất Hạnh, dài gần ngàn trang, chắc cũng không nói lên hết tất cả niềm đau nỗi khổ của Dân Tộc!
Trong suốt cuộc chiến tranh dài, Đất Nước và Dân Tộc bị thiệt hại và mất mát quá nhiều! Về lãnh thổ, Đất Nước đã mất quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, mất một vùng lãnh hải giàu ngư sản và dầu hỏa, mất những dải đất chiến lược ở biên giới mà Tiền Nhân đã bảo toàn từ ngàn đời. Về xây dựng và phát triển kinh tế Việt Nam năm 2009, Ngân Hàng Thế Giới đã công bố kết quả thật đáng buồn. Việt Nam thật vô cùng tụt hậu so với các nước bạn chung quanh. Muốn theo kịp Singapore, ta phải mất 158 năm, muốn theo kịp Nam Dương, ta phải mất 51 năm, và phải 95 năm mới bắt kịp Thái Lan! Về mặt luân thường đạo đức, Hồ Chí Minh và Đảng đã tàn phá hết cả Quốc Hồn Quốc Tuý mà Tổ Tiên đã bồi đắp trong 4000 năm dài! Cả những Di Tích Lịch Sử cũng không chừa! Ví thử Dân Tộc lấy lại Đất Nước khỏi tay Đảng (như cuộc Thống Nhất tuyệt đẹp của nước Đức)! Ví thử chúng ta có một Nhà Nước thật sự “của dân, vì dân, và do dân”! Ví thử chúng ta có những chính trị gia thiết tha yêu nước để hết tâm trí để “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” theo gương Cụ Phan Bội Châu, Cụ Phan Châu Trinh, Cụ Trần Trọng Kim, vân vân… (chớ không phải những Quan Chức Đỏ bận tâm mua quan bán nước để thành tỷ phú Mỹ kim như hiện nay). Có biết bao nhiêu điều ví thử như thế, không kể xiết! Người viết tin tưởng mãnh liệt vào HỒN THIÊNG SÔNG NÚI sẽ là hào quang dẫn dắt Dân Tộc xây dựng lại cơ đồ Việt Nam sáng lạng để tám mươi lăm triệu người con dân Việt tìm lại nhau trong nỗi vui mừng lớn của Đất Nước: CUỘC ĐẠI ĐOÀN VIÊN CỦA DÂN TỘC.
Cuộc Đại Đoàn Viên Của Dân Tộc
Đối với Việt Tộc, cuộc Đại Đoàn Viên của toàn khối Dân Tộc khắp Bắc Nam Trung cùng Kinh Thượng Một Nhà sẽ là giấc mơ lớn nhất và đẹp nhất, như truyện 50 con xưa theo CHA ra biển nay lại tìm về đoàn tụ với 50 người anh em ở lại vùng rừng núi với MẸ. Và trăm đứa con cùng MẸ cùng CHA đó, trong cảnh Đại Đoàn Viên thật cảm động, sẽ góp bàn tay và trí tuệ xây dựng lại Ngôi Nhà Việt Nam. Họ sẽ hàn huyên tâm sự kể cho nhau nghe và dạy cho con em mình những chuyện thật đẹp như chuyện Bà Trưng Bà Triệu, chuyện Đinh Lê Lý Trần, chuyện Hội Nghị Diên Hồng, chuyện Bình Ngô Đại Cáo, chuyện Đại Phá Quân Thanh, vân vân…, chứ họ không hề nhắc đến cơn ác mộng Mác Lê Xít Mao Hồ! Họ ru em, họ ngâm thơ, họ hát quan họ, hát bội, hát cải lương, họ hò mái đẩy, họ ca trù, ca vọng cổ, họ múa võ Bình Định (tức Võ Nhạc Tây Sơn), họ tập Vovinam, họ kiến tạo Văn Miếu, họ trùng tu Võ Miếu theo lời dạy của chúa Trịnh ngày xưa (chúa Trịnh Doanh), vân vân… Trong cảnh Đại Đoàn Viên vô cùng ấm cúng, họ sẽ ngâm cho nhau nghe những vần thơ Say Tình Dân Tộc:
Say trà, say thuốc, say thơ
Say Tình Dân Tộc lòng mơ về nguồn
À… ơi… một Mẹ trăm Con
Bốn ngàn năm đẹp vuông tròn Nghĩa Nhân
Và những vần thơ đầy Tình Người:
Dòng thơ theo sữa Mẹ vào Con
Theo điệu ru hiền dỗ giấc ngon
Thơ mang Đạo Nghĩa vào tâm trẻ
Tô đẹp Tình Người cho Nước Non
Lời thơ theo gió bay bốn phương, họ ngâm chứ không phải hát, mà cũng du dương nào kém nhạc, nhưng chỉ là thơ thôi. Bốn phương quay lại nhìn, lắng nghe thơ Việt ngâm réo rắc, lối ngâm nga có một không hai trong Trời Đất. Thiên hạ khắp bốn phương đều làm thơ, nhưng Việt tộc đã đưa Thơ vào Nhạc, Hồn Thơ Việt được hòa nhập vào Nhạc, khiến cho mỗi một Bài Thơ khi ngâm lên hóa thành một Bản Nhạc “vô ký âm” như Lời Kinh “vô ngôn” của Đức Phật! Nâng niu Thơ như bức họa trong nét Thư Pháp bay bướm trên mảnh giấy lụa Hoa Tiên, người Nghệ Sĩ Diễn Ngâm chờ cho Sáo Trúc, Đàn Tranh, và Độc Huyền Cầm trổi lên mới cất giọng ngâm, hòa lời Thơ du dương của mình vào Nhạc. Vâng, Việt Tộc ngâm thơ theo phong cách ấy và đã xây đắp một nền Thi Ca Ngâm Vịnh tuyệt vời! Thiên nhiên đã ưu đãi mảnh đất của Con Rồng Cháu Tiên. Chính tại dải giang sơn gấm vóc này, Thi Ca Ngâm Vịnh được nâng lên Đỉnh Cao Nghệ Thuật của loài người!
Nhưng Thiên nhiên lại chơi luật bù trừ, Thiên nhiên cho tay nầy lấy tay kia. Về Thi Ca Ngâm Vịnh, Thiên nhiên đã cho Dân Tộc chúng ta phần thật đẹp của Túi Thơ trong Trời Đất. Nhưng ngược lại trên địa bàn chính trị, than ôi, chúng ta bị lãnh phần tệ hại nhất, chúng ta bị mắc Đại Họa Hồ Chí Minh!
Chính trong Đại Họa Hồ Chí Minh, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường phải sống “nghèo, nghèo, nghèo” vì bị Đảng trù dập. Trong cô đơn và lén lút, ông hoàn tất cuốn hồi ký bằng tiếng Pháp tựa đề Un Excommunié - Hanoi 1954 - 1991: Procès d’un Intellectuel (Kẻ Bị Khai Trừ - Hà Nội 1954 - 1991: Bản Án Một Người Trí Thức). Cuối cuốn hồi ký, trong chương “Hành Trình Qua Sa Mạc”, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã chất vấn Đảng Cộng Sản những lời đanh thép, người viết xin lặp lại, chỉ xin thay từ “nhân dân” trong nguyên tác để thế bằng từ “Dân Tộc”:
“Dân Tộc có thể đặt một số câu hỏi với Đảng: Trong khi phong trào dân chủ và tự do dâng lên như sóng cồn, tại sao các ông ngoan cố không chịu nhìn nhận sự thực, và bám víu một cách tuyệt vọng vào một tín điều đã lỗi thời không thể sửa chữa được? Giữa chủ nghĩa của các ông và quyền lợi của Dân Tộc, các ông thiên về bên nào? Những bông hoa các ông nhập cảng và cắm vào trong bình, đã héo tàn. Các ông ngoan cố sùng bái cái xác ướp không thể sống lại ấy cho đến bao giờ? Và nhất là các ông hãy cho Dân Tộc biết những lý do thật sự các ông thù ghét chế độ đa đảng?... Dư luận nhận xét rằng các ông đã đi bước đầu trên con đường đổi mới. Như vậy các ông bắt đầu thú nhận các sai lầm. Nhưng các ông, và cả Dân Tộc nữa, có thể nào bằng lòng với những biện pháp nửa chừng không, khi mà các biện pháp ấy chỉ có thể chữa trị một vài lãnh vực đã được nêu rõ, nhưng bệnh tật đã lan ra khắp toàn thân thể của quốc gia và các cấu trúc của quốc gia? Các ông thích tự hào về những hy sinh to lớn, kể cả mạng sống, để cống hiến cho Đảng. Các ông không đủ anh hùng tính để hy sinh Đảng của các ông cho Tổ Quốc và Dân Tộc hay sao? Nước Việt Nam và lịch sử Việt Nam đang chờ đợi câu trả lời của các ông”.
Trong Đại Họa Hồ Chí Minh, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đặt câu hỏi: “Các ông không đủ anh hùng tính để hy sinh Đảng của các ông cho Tổ Quốc và Dân Tộc hay sao?” Câu hỏi đặt ra vào năm 1991, đến nay là năm 2009, những18 năm dài đã trôi qua. “Các ông” trong câu hỏi trên, tức là 15 Đảng Viên quyền lực nhất, tức 15 Ủy Viên Bộ Chính Trị, thực sự đã không đủ hào hùng để hy sinh Đảng, cho nên vẫn im lặng. Họ không trả lời, nhưng mặc nhiên đã trả lời rồi. Họ vẫn đi theo con đường Mác Lê Xít Mao Hồ. Như thế cũng tốt bởi vì họ có TỰ DO. Nhưng họ phải buông thả TỰ DO cho Dân Tộc đi con đường Dân Tộc, đi theo tiếng gọi của Hồn Thiêng Sông Núi!
Hướng về Cảnh Đại Đoàn Viên của Dân Tộc và khi còn mắc Đại Họa Hồ Chí Minh, xin lắng nghe lời nhắn nhủ của một lão tướng trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm ngày xưa. Đó là thi sĩ Hoàng Cầm, tác giả bài thơ “Lá Diêu Bông”, hiện ở phố Lý Quốc Sư, Hà Nội. Ông bị gãy hai chân và bị bể xương chậu, không tiền chữa trị nên phải nằm một chỗ, nhưng rất lạc quan yêu đời. Khi MC Trịnh Hội hỏi ông với 86 năm tuổi đời chồng chất, ông có lời gì chia sẻ với thế hệ tương lai, thì ông trả lời (xem DVD Asia 51 Tình Khúc Sau Cuộc Chiến):
“Bất kể dù cái gì chăng nữa, các cháu thấy cái gì là tốt cho Dân Tộc thì các cháu cứ làm, cứ mạnh dạn mà làm. Dù có thể người ta không công nhận, hoặc là chưa có dịp gì đó, nhưng mà các cháu thấy cái gì có lợi cho Dân Tộc, thì các cháu cứ làm”.
Vào năm 1959, khi Dân Tộc còn vướng nặng trong mê lộ của ý thức hệ, đi theo con đường Mác Lê Xít Mao Hồ, Dân Tộc không tìm được hạnh phúc. Ý thức như vậy, nên thi sĩ Hoàng Cầm làm bài thơ “Lá Diêu Bông” để nói lên Sự Tìm Kiếm Vô Vọng. Đến năm 2007, trong lời nhắn nhủ ngắn gởi cho thế hệ tương lai, thi sĩ Hoàng Cầm đã hai lần dùng chữ “Dân Tộc”. Người viết xin lặp lại ý chính trong lời khuyên của Lão Thi Sĩ Hoàng Cầm, “Con Ngựa Chiến” của phong trào Nhân Dân - Giai Phẩm: “Các cháu thấy cái gì có lợi cho Dân Tộc, thì các cháu cứ làm”
Sau đó không lâu, trên đất Pháp, ở vùng Ile de France bên dòng sông Seine, vào Tất niên 2007, có Lễ Mừng Bát Tuần thật cảm động tổ chức cho bốn vị Trưởng Lão Việt Nam. Trong mục Paris Có Gì Lạ Không Em (Bán Tuần Báo Việt Luận, ngày 25-1-2008), tác giả Đinh Tiểu Nguyên, trong bài “Lễ Chúc Thọ Tứ Tượng Hay Bốn Vị Trưởng Lão”, kể rằng Họ có đến viếng một Cụ Đồ uyên bác ở Paris để vấn ý về các loại tuổi thọ. Theo Cụ Đồ này thì người 60 tuổi là “Kỳ Lão”, được dân chúng gọi bằng “Cụ”. Lễ Lục Tuần, hay Đáo Tuế, còn gọi là Hoa Giáp Chi Niên.
Người được 70 tuổi gọi là “Cổ Hi Thọ”. Do đó có câu “Nhân sinh thất thập cổ lai hi”, người sống 70 tuổi thì hiếm. Tuy nhiên thọ 70 chỉ thuộc loại thọ thấp, tức là “Tiểu Thọ”.
Người sống đến 80 hay “Bát Thập Kế Chi”, lại chỉ được xếp vào hạng “Trung Thọ”. Người tuổi 80 gọi là “Tản Thọ”, còn gọi là “Trượng Triều”. Cụ Đồ Paris kể rằng ngày xưa vua ban cho người 80 tuổi được quyền cầm trượng (cây gậy) vào triều đình để dâng thẳng lên vua những điều trần về việc nước mà không bị ngăn cản, bởi lẽ ở tuổi đó mà còn sáng suốt, còn quan tâm đến việc nước không vì tư lợi, thì Nhà Vua và Triều Đình phải lắng nghe. Đây là một truyền thống thật đẹp thời quân chủ.
Đến 90 tuổi trở lên gọi là “Thượng Thọ”. Một trăm tuổi gọi là “Cao Thọ”. Một trăm lẻ tám tuổi gọi là “Trà Thọ”. Cụ Đồ Paris chỉ biết chữ “Trà Thọ” nhưng cũng không hiểu tại sao lại gọi như thế.
Trong cảnh Đại Đoàn Viên của Dân Tộc, Tứ Tượng tức là bốn vị Voi Già được các Cụ Việt Kiều ưu ái chúc thọ gồm có 3 vị từng phục vụ Đảng nhiều năm, và một vị thì phục vụ VNCH (Voi Già “Éléphant” là cách nói của Đảng Xã Hội Pháp gọi các đảng viên thâm niên). Khoảng mười mươi Cụ Việt Kiều đó, theo phong tục gọi là “cụ” vì Họ đã qua tuổi “Lục Tuần”, trong nhóm có lẽ hai cụ trẻ nhất là Cụ Vũ Thư Hiên người Hà Nội, và Cụ Phan Văn Song người Sài Gòn. Từ sau năm 1975, Hồn Thiêng Sông Núi mang Họ đến Paris, xui cho Họ gặp nhau, gieo tình bằng hữu và nghĩa đồng bào đậm đà trong tâm Họ. Ngày hôm ấy, Họ chia nhau đi chợ, làm bếp, rửa rau, rửa trái cây, nướng món cá hồi đút lò ăn với bún và bánh tráng VN, Họ thưởng thức rượu chát trắng Bourgogne đặc sản của miền Alsace, sau cùng Họ thưởng thức Champagne với bánh ngọt. Đến phần rượu vào lời ra, Họ mời các vị Bát Tuần có vài lời về buổi lễ. Các cụ tâm tình thật nhiều. Nhưng trong khuôn khổ chương sách này, người viết chỉ xin trích dẫn những lời Họ nhắn nhủ để gởi đến thế hệ tương lai.
Cụ Bùi Tín, Đệ Nhất Trưởng Lão, với nét mặt đầy xúc động kể rằng trong 17 năm qua, Cụ đã xa gia đình, xa vợ con và các cháu. Đó là một bất hạnh rất lớn, nhưng bù lại, Cụ có được đông đủ bạn bè ở khắp nơi và nhận được lòng quý mến của rất nhiều người ngoại quốc. Cụ tỏ lòng hối tiếc như sau:
“Nay tôi chỉ tiếc một điều là tôi đã mất hết 44 năm cho Đảng Cộng Sản. Tôi ra khỏi đảng trể, nhưng hãy còn sớm hơn 2 triệu người kia, nay còn theo cái đảng ấy”.
Cụ nói thật lòng mình, và không đè nén được xúc cảm, nước mắt nhiều lần lưng tròng. Anh em ngồi lắng nghe, xúc động theo từng xúc động của Cụ, tất cả đều chậm nước mắt khi Cụ dứt lời.
Cụ Trần Thanh Hiệp, Đệ Nhị Trưởng Lão, tâm sự với anh em:
“Từ 1945, Cụ bị Cộng sản gạt. Cụ dẫn chứng từng trường hợp lịch sử. Nay, già rồi, Cụ nhất định sẽ không để bị gạt. Cụ có thể bị thua cuộc, nhưng không để bị cộng sản có thể lường gạt như những lần trước đây nữa. Cụ nhấn mạnh cộng sản là cái thứ lúc nào cũng tìm đủ mọi cách để lường gạt mọi người”.
Đệ Tam Trưởng Lão là Cụ Hồ Minh Châu, trước 1975 phụ trách Tiểu khu Sa Đéc. Cụ Châu mới lên 80, biết sức mình còn khoẻ lắm nên đủ sức theo chân anh em. Cụ nói với vẻ thật “chịu chơi” rằng hiện tại anh em cần gì, Cụ sẳn sàng theo sát và ủng hộ.
Đệ Tứ Trưởng Lão Võ Nhơn Trí, nguyên Chuyên viên Nghiên cứu ở Viện Kinh Tế ở Hà Nội và Viện Khoa Học Xã Hội ở Sài Gòn. Cụ tâm tình với giọng chậm rãi, thỉnh thoảng ngưng lại vì xúc động, rồi cố gắng nói tiếp:
“Tôi sống với Cộng Sản ở Hà Nội 23 năm nên tôi hiểu chúng nó quá. Chúng nó không bao giờ có tình cảm, mà cũng không có lý trí. Chúng nó lúc nào cũng chỉ biết lường gạt, để bảo vệ quyền lợi của đảng, mà thực chất, chính là quyền lợi riêng của nhóm chóp bu là trên hết”.
Sau cùng tác giả Đinh Tiểu Nguyên “ghi” thêm lời kết như sau:
“Cụ Vũ Thư Hiên chuyển lời chúc mừng Thượng Thọ từ Mạc Tư Khoa của Cụ Nguyễn Minh Cần trong đó có lời Cụ chúc mừng riêng Cụ Bùi Tín”.
Bài ghi của tác giả Đinh Tiểu Nguyên chỉ dài một trang báo (Bán Tuần Báo Việt Luận xuất bản ở Sydney, trang 50) nhưng đã mang tải những lời khuyên nhủ quý báu của bốn vị Trưởng Lão Bát Tuần ở Paris, những lời quý giá như một trang sử đẹp, gởi đến cho Dân Tộc và cho Thế Hệ tương lai. Xin hãy xem buổi Lễ Mừng Bát Tuần này như một Tiểu Hội Nghị Diên Hồng góp phần vào công cuộc THÁO GỠ Đại Họa Hồ Chí Minh (“THÁO GỠ” chữ của Cựu Hoàng Bảo Đại, xin xem lại Chương 6 Tư Tưởng Hồ Chí Minh). Nói đến Đại Họa Hồ Chí Minh và nền Thi Ca tuyệt đẹp của Dân Tộc, chúng ta không thể không nhắc đến Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Nhà văn Mai Thảo, trong quyển Chân Dung 15 Nhà Văn Nhà Thơ Việt Nam, đã xưng tụng ông: “Mọi người là thi sỹ. Riêng ông là thi bá”. Sau Hiệp định Genève, Thi sĩ Vũ Hoàng Chương không ở lại miền Bắc mà lại vào Nam tìm tự do, thế là một tội! Đã nổi danh là “thi bá” mà không theo con đường phục vụ Bác Đảng như Tố Hữu hay Xuân Diệu, tội này lại nặng hơn, đáng chết! Và Đảng đã giết ông thật!
Tác giả Trần Dạ Từ viết (Trích quyển Quê Hương Bạn Hữu Tù Đày, trang 75): “Chỉ bằng một cái búng tay của Bạo Lực, ngày 3 tháng 4 năm 1976, công an VC vây bắt cả trăm văn nghệ sĩ miền Nam bỏ vào tù, mãi đến 10 ngày sau, họ mới nhớ đến thi sĩ Vũ Hoàng Chương”. Có nhiều nhà phê bình thường chê trách giới trí thức VN hèn. Có lẽ chúng ta nên xét lại, không nên viết như thế nữa! Bạn hiền ơi, đứng trước bầy thú dữ như cọp, beo, sư tử chực ăn thịt bạn mà bạn không có súng đạn, bạn không thể đứng lại lý luận, bạn chỉ có nước chạy mà thôi, mà phải chạy vắt giò lên cổ! Các bạn hãy xem Đảng biểu dương bạo lực để vây bắt Vũ Hoàng Chương, một thi sĩ già, sức trói gà không chặc, mà lại đang bị bịnh ngồi dậy không nổi! Theo lời thuật của bà vợ thi sĩ, tác giả Trần Dạ Từ viết (trang 18 sđd):
“Chúng đến, từ phía Sài Gòn. Bốn chiếc jeep đầy nhóc an ninh áo vàng mang súng ống như cho một cuộc hành quân lớn, ầm ầm vượt qua cầu Calmette, khu chợ Khánh Hội, phóng thẳng tới phường Cây Bàng và dừng lại trước con ngõ dẫn vào Gác Bút. Bọn an ninh Cộng Sản, trên 20 đứa, tới tấp nhẩy xuống xe. Khoảnh khắc, cả phường Cây Bàng bị vây kín… Dân chúng chung quanh Gác Bút thất kinh. Có người hỏi, chúng trả lời: “Phải huy động một lực lượng lớn lao thế này để tóm trọn ổ một bọn cướp (!) lợi hại”.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương bị bắt ngày 13-4-1976, chỉ vài ngày trước sinh nhật Lục Tuần của ông (ông sinh ngày 5-5-1916), ông mất ngày 19-8 cùng năm. “Chúng bắt ông sau cùng. Và giết ông trước nhất”, Trần Dạ Từ đã viết như vậy. Những vần thơ khí tiết sau đây của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương để lại cho Dân Tộc, xin được xem như Lễ Vật kính dâng lên Hồn Thiêng Sông Núi:
Trải bốn ngàn năm dựng nước nhà
Sông khoe hùng dũng núi nguy nga
Trả ta sông núi bao người trước
Gào thét đòi cho bọn chúng ta
Trả ta sông núi từng trang sử
Dân Tộc còn nghe vọng thiết tha
Ngược vết thời gian cùng nhắn nhủ:
Không đòi, ai trả núi sông ta
Vũ Hoàng Chương
Ngày Đại Đoàn Viên của Dân Tộc, theo ánh hào quang của Hồn Thiêng Sông Núi, sớm hay muộn, rồi cũng sẽ đến với Dân Tộc. Chúng ta chỉ cần chờ đợi. Khoảnh Khắc Linh Thiêng đó rồi cũng sẽ đến. Nữ sĩ Dương Thu Hương, bằng văn phong hào hùng và tuyệt tác, đã diễn tả giây phút đó ở trang 290 của quyển Au Zénith (Đỉnh Cao Chói Lọi), quyển sách vừa xuất bản ở Paris ngày 19-1-2007. Ở trang 290 là trang đẹp nhất của quyển sách, Dân Tộc đọc được những dòng chữ thật đẹp:
“Kể từ ngày mồng hai tháng chín năm Kỷ Dậu, trên đỉnh trời Hà Nội, luôn luôn treo lơ lửng một lưỡi gươm. Một lưỡi gươm khổng lồ, trong suốt. Người ta có thể nhìn rõ lưỡi gươm ấy vào những ngày thu, trời vắng mây, đặc biệt những ngày trời biếc xanh, xanh tinh lọc sau mưa bão hoặc sau khi cầu vòng hiển hiện. Lưỡi gươm ấy nhằm thẳng xuống cột cờ thành Hà Nội, chờ đợi khoảnh khắc định mệnh để rơi xuống, chặt đứt lá cờ đỏ sao vàng, kết thúc cái chế độ phản trắc và tàn bạo, tiêu diệt loài ngạ quỷ đã cắn cổ hút máu chính dân tộc nuôi dưỡng nó”.
Những dòng chữ của Dương Thu Hương ở trang 290 đẹp như thế đó! Cũng sẽ thật đẹp ngày Đại Đoàn Viên của Dân Tộc! Người viết vô cùng cảm tạ Nữ sĩ Dương Thu Hương và xin dùng những dòng chữ thật đẹp trên để kết luận cho chương “Hồ Chí Minh, Chính Trị Gia Tồi Tệ”, cũng như cho quyển “Cuộc Chiến Tranh Của Hồ Chí Minh Đánh Dân Tộc” này.
Sydney, Úc Đại Lợi
Mùa Ngư Dân Bị Cấm Biển 2009
Nhóm Tâm Việt Sydney
Wednesday, February 10, 2010
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment